Thứ Ba, ngày 05 tháng 7 năm 2016

Đơn xin thôi việc chuẩn

 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
-------***------ 
ĐƠN XIN THÔI VIỆC

 Kính gửi: Ban lãnh đạo Công ty ……… Trưởng phòng ………....... 
Tên tôi là: …………………......................................................................................................
 Bộ phận làm việc: …………………………................................................................................. Tôi rất lấy làm tiếc vì sẽ không còn làm việc tại Công ty …………. trong thời gian sắp tới.

 Tôi quyết định nhận vị trí công việc mới để tìm thêm cơ hội phát triển mới, phù hợp với chuyên môn và khả năng làm việc của tôi. 


Tôi thực sự lấy làm vinh dự lớn được làm việc tại đây trong suốt X năm.


 Trong quá trình làm việc tại đây, Công ty đã cho tôi có được may mắn làm việc với những đồng nghiệp tốt cùng với một môi trường làm việc tốt. 


Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty đã tin tưởng tôi trong suốt thời gian vừa qua và chúc cho Công ty chúng ta sẽ đạt được những thành công như mong muốn. 


Vậy tôi làm đơn này xin được nghỉ việc từ ngày ………………. Tôi sẽ bàn giao công việc của mình một cách đầy đủ và có trách nhiệm. Rất mong được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Công ty. 

Tôi xin chân thành cảm ơn! 
.........., ngày……tháng….. năm 20..... 
Ý kiến của trưởng bộ phận Người làm đơn


Thứ Hai, ngày 20 tháng 6 năm 2016

Du lịch Lào Cai

Lào Cai là một tỉnh thuộc vùng cao biên giới phía Bắc Việt Nam. Khu du lịch Lào Cai được biết đến với vẻ đẹp nguyên sơ của vùng núi phía Bắc. Đến Lào Cai ngoài những danh lam thắng cảnh hấp dẫn thì đây cũng là nơi có nhiều những địa danh lịch sử, hang động tự nhiên, và nét ẩm thực đặc sắc mang đậm nét đặc trưng văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc anh em.

*Địa điểm du lịch ở Lào Cai


-Cổng trời SaPa


Ra khỏi thị trấn Sapa, đi theo hướng Bắc khoảng 18 km, đường lên cổng trời ngoằn ngoèo uốn lượn giữa lưng chừng núi trùng trùng điệp điệp với những bóng nắng chạy dài thoắt ẩn thoắt hiện. Con đường đèo này có tên là Trạm Tôn, len lỏi giữa dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ. Và cổng trời chính là đỉnh của con đèo này. Cổng trời trở nên hấp dẫn du khách mỗi dịp đi du lịch Lào Cai Sapa, vì nhiều người tham quan Thác Bạc bao giờ cũng cố ngược lên cổng trời để ngắm cảnh sắc kỳ vĩ của núi rừng Hoàng Liên đã được vinh danh là "Vườn di sản Asian Sa Pa".

-Núi Hàm Rồng


Là một ngọn núi nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ với ý nghĩa "hàm của rồng". Hàm Rồng là một trong số ít các núi ở Việt Nam có yếu tố tượng hình rõ nét và đẹp.
Núi Hàm Rồng từ lâu đã trở thành một điểm du lịch Lào Cai không thể bỏ qua trong chuyến đi đến Sapa của nhiều du khách. Núi  nằm ngay trong trung tâm thị trấn Sapa – Một thị trấn du lịch nổi tiếng của Huyện Sapa – Tỉnh Lào Cai.
Du khách có thể đi bộ đến đó. Đứng trên đỉnh núi Hàm Rồng, bạn được ngắm toàn cảnh Sapa, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói. Hiện nay, với bàn tay tôn tạo của con người, Hàm Rồng thực sự là một thắng cảnh đầy hoa trái của Sa Pa. Lên Hàm Rồng, du khách như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất. Đặc biệt là vườn hoa phong lan gồm nhiều loài lan quý hiếm của núi rừng Hoàng Liên và vùng núi phía  Bắc Việt Nam được di thực về ươm trồng nơi đây.
Đến với khu du lịch núi Hàm Rồng quý khách không thể bỏ qua 3 điểm có thể ngắm toàn cảnh thị trấn Sa Pa được các nghệ sỹ nhiếp ảnh và nhiều du khách chọn là điểm đến không thể thiếu mỗi dịp khi tới thăm “Thành phố trong sương” . Đó là các điểm: Vườn lan 1, ở đây ngắm toàn cảnh nhà thờ cổ Sa Pa lâu nay được coi là biểu tượng hình ảnh du lịch Lào Cai chuẩn bị tròn 100 tuổi ẩn mình bên những rặng sa mu đại thụ đẹp như tranh thủy mạc; điểm ngắm cảnh thứ 2, Trạm viễn thông Sa Pa cao gần 2000 mét so với mực nước biển, từ đây du khách có thể ngắm đỉnh núi Fansipan cao 3.143 mét được mệnh danh là “Nóc nhà Đông Dương”; điểm ngắm cảnh thứ 3 là sân mây núi Hàm Rồng, tại đây vào ngày đẹp trời du khách có cơ hội ngắm nhìn trọn vẹn toàn cảnh “Thành phố trong sương” thơ mộng.

-Fansipan


Fansipan cách thị trấn Sa Pa khoảng 9 km về phía tây nam, nằm giáp hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu thuộc vùng Tây bắc Việt Nam. Theo tiếng địa phương, núi tên là "Hủa Xi Pan" và có nghĩa là phiến đá khổng lồ chênh vênh.
Với những du khách đi tour Sapa chắc thể bỏ qua đỉnh Fansipan một điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến nơi đây. Trên đường chinh phục đỉnh Fansipan du khách sẽ được khám phá hệ thống động thức vật và thiên nhiên kỳ thú của dãy Hoàng Liên. Tai đây có rất nhiều cây Hoàng Liên, một loại dược liệu quý, các loại gỗ quý, chim thú như gà gô, gấu, khỉ, sơn dương, các loài chim…
Theo kinh nghiệm du lịch Sapa từ đây đến độ cao 700m là vành đai nhiệt đới có những khoảng rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Từ 700m trở lên là tầng cây hạt trần ví dụ như cây pơmu, có những cây ba, bốn người ôm không xuể, cao khoảng 50-60m, tuổi đời tới vài trăm năm được du khách chinh phục vô cùng thích thú và không quên chụp những bức ảnh lưu niệm cho chuyến du lịch của mình. Pơmu (ngọc am) được mệnh danh là mỏ vàng của Lào Cai. Bên cạnh pơmu, còn nhiều loại gỗ quý hiếm khác như: lãnh sam, thiết sam, liễu sam, kim sam, thông đỏ, hoàng đàn…Các cây lá kim ken đầy với cây gỗ nhỏ trụi, thân luôn sũng nước vì càng lên cao, càng hay mưa, có năm cả Fansipan mưa suốt một tháng liền. Xen lẫn với rừng lá kim, là các loại hoa đỗ quyên, phong lan, hoàng anh rực rỡ. Hầu như bốn mùa, cả Sapa đều ngập tràn trong muôn sắc các loài hoa: lay ơn, thược dược, bgônha, estcola… là những thứ hoa dưới đồng bằng hiếm có. Riêng hoa đỗ quyên có tới bốn chi với hai chục loài khác nhau. Có nơi đỗ quyên chi chít, rực rỡ cả núi rừng. Ở nước ta có 111 chi phong lan và 643 loài thì riêng Fansipan có tới 330 loài.
Khi lên đến độ cao 2.400m cũng là lúc bạn cảm nhận được nét hòa quyện với cây rừng có lúc xòe tay ta tưởng đã nắm được mây. Từ độ cao 2.800m, mây mù bỗng tan biến, bầu trời quang đãng, trong xanh. Chỉ có gió thổi làm cho thảm thực vật phải dán mình vào đá. Phủ kín mặt đất là trúc lùn, những bụi trúc thấp khoảng 25-30cm, cả thân cây trơ trụi, phần ngọn có một chút lá phất phơ, nên loài trúc này gọi là trúc phất trần. Xen kẽ là một số cây thuộc họ cói, họ hoa hồng, họ hoàng liên…Đất xương xẩu trơ cả gốc, gió thổi không ngớt, khí hậu lạnh giá…

-Thung lũng Mường Hoa



Thung lũng Mường Hoa nằm cách thị trấn SaPa 10km về phía Đông Nam là điểm du lịch hấp dẫn, thu hút những bước chân của du khách đến đấy. Thung lũng Mường Hoa hút hôn du khách bởi nét đẹp hữu tình của cảnh đất trời hội tụ. Thung lũng tuyệt đẹp này là nơi sinh sống của nhiều dân tộc anh em, nơi chứa đựng những vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời làm đắm lòng khách phương xa. Thung lũng Mường Hoa là một trong những điểm du lịch nổi tiếng và hấp dẫn ở Sapa.
Ngoài vẻ đẹp thơ mộng, thung lũng Mường Hoa còn hấp dẫn du khách bởi tại đây có một bãi đá cổ kỳ bí, nằm xen giữa cỏ cây và những thửa ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc. Hàng trăm tảng đá sa thạch có khắc những hình vẽ, những ký tự kỳ lạ đến nay vẫn chưa xác định được nguồn gốc và ý nghĩa. Ngày nay, khu chạm khắc cổ này đã được xếp hạng di tích quốc gia, là di sản độc đáo của người Việt cổ.
Thung lũng Mường Hoa còn là nơi có bãi đá cổ Sa Pa nổi tiếng. Khu chạm khắc đá kỳ lạ này nằm xen giữa cây cỏ và những thửa ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc. Trải dài trên chiều dài hơn 4km, rộng 2km, với ít nhất 159 hòn đá, chứa nhiều hình họa bí ẩn, bãi đá từng là điểm tập trung nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Việt Nam, Nga, Pháp, Australia.

-Đền Mẫu

Đền Mẫu Lào Cai được nhân dân vùng cửa ải Lê Hoa thuộc phố Bảo Thắng xưa, xây dựng từ thế kỷ 18. Ban đầu, đền chỉ là một ngôi thờ nhỏ bên bờ sông Hồng và sông Nậm Thi; qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, ngôi đền hiện nay đã khang trang với 9 gian thờ. 
hồ sơ xin việc hấp dẫn giúp bạn tạo ấn tượng với nhà tuyển dụng

Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, ngôi đền đã được ban sắc phong ba lần. Năm 2011, ngôi đền đã được ngành chức năng xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Vị thần được thờ chính ở đây là Liễu Hạnh công chúa. Ngoài ra, còn phối thờ các vị thần thánh khác, như: Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng Bảy, Hoàng Mười, Quan lớn Thủ Đền, bà Đệ Nhị Sơn Trang, v.v... Các pho tượng thờ ở trong đền đều được sơn son thiếp vàng, và đều mang dáng vẻ uy nghi.
Từ xa xưa, người dân nước Việt đã phong bà là Mẫu Nghi Thiên hạ, với ước nguyện Thánh mẫu giúp cho “Thiên hạ Thái Bình- Quốc thái dân an- Phong đăng hoà cốc”. Trong tiềm thức người dân Việt Nam, bà là Tiên nên có phép Tiên, là Phật nên mang tư tưởng Phật, là Thánh nên linh thiêng và là Mẫu nên có phẩm chất của người mẹ… Thánh Mẫu Liễu Hạnh hội tụ cả đức, hiếu, nghĩa của Nho giáo, có pháp thuật của Đạo giáo, tính thiện của Phật giáo. Vì vậy, Thánh mẫu Liễu Hạnh được nhân dân tôn vinh là một trong bốn vị thánh bất tử, được thờ cúng ở khắp mọi miền đất nước.

*Lễ hội ở Lào Cai

- Lễ hội Nhặn Sồng



Từ đầu thập kỷ 50, do sự gia tăng dân số, nạn phá rừng làm nương rẫy cũng phát triển, nên chỉ năm nào rừng bị phá nhiều, trâu ngựa thả rông phá vườn tược hoa mầu, người Dao mới tổ chức lễ “Nhặn Sồng”. Đồ cúng lễ là một con lợn (to hay nhỏ tuỳ thuộc số người đến dự nhiều hay ít). Con lợn này thay phiên hàng năm từng  gia đình trong làng nuôi . Lợn cúng phải là lợn  khoẻ mạnh, có lông đen tuyền, béo tốt.
Ngày làm lễ Nhặn Sồng, mỗi hội gia đình cử từ một hay hai người nam giới đi dự. Người đi dự lễ  mang theo nửa lít rượu , một bát gạo, đều mặc quần áo đẹp, nét mặt hồ hởi tiến vào khu rừng hay bị phá nhất. Địa điểm họp có khi cũng chọn ngôi nhà gần khu rừng bị phá. Đây là lễ hội của người Dao đỏ ở làng Giàng Tả Chải (Tả Van – Sa Pa). Trước đây, vào những ngày tốt của tháng đầu năm, người Dao ở Giàng Tả Chải thường tôt chức lễ “Nhặn Sồng” ở khu rừng cấm của làng.
Khi mọi người đến đầy đủ, dân làng bầu ra một người làm gốc, “Chẩu chiếu” - người đứng đầu trông coi rừng trong năm. Người “Chẩu chiếu” phải là người có sức khoẻ, giỏi lý lẽ, hiểu biết lệ tục. Sau khi được bầu “Chẩu chiếu” làm lễ cúng thần thổ địa “Thủ Ti” - Vị thần cai quản cộng đồng làng. Sau đó ông ta trịnh trọng đọc quy ước của làng: Bà con trong làng đã bầu tôi làm “Chẩu chiếu”, tôi nói điều gì bà con phải tuân theo.
tìm việc làm với mức lương cao tại web tuyển dụng
Sau khi “Chẩu chiếu” đọc xong một điều quy định, đại diện các gia đình thảo luận. Cuối cùng, “Chẩu chiếu” tổng hợp các ý kiến thành quy ước riêng của làng về bảo vệ rừng, mọi người dân trong làng Giàng Tả Chải đều có trách nhiệm thực hiện. Quy ước của làng đã được “Thiêng” hoá vì có sự chứng kiến, công nhận của thần thổ địa. Quy ước của làng là nguyện vọng của cả làng, trở thành “luật lệ” của làng, mọi dân làng đều tự giác tuân theo.
Trong niềm vui thống nhất được quy ước, mọi người đều ăn chung một bữa ăn cộng đồng. Thịt, cơm bầy ra lá rừng, rượu uống bằng ống bương nhưng mọi người đều hân hoan trong niềm vui chung của cả làng.

- Hội xòe Tà Chải


Hội Xòe Tà Chải được tổ chức vào ngày 05/1 Âm lịch, tại Tà Chải Bắc Hà. Đây là hội xuân của người Tày cầu cho mùa màng tươi tốt, thóc gạo đầy nhà.
Nghi lễ của hội Xòe khá đơn giản với một mâm lễ vật tại chân cây nêu to, biểu thị lòng thành kính của dân bản đối với Thần Nông vị thần cai quản ruộng nương. Sau khi thầy cúng làm lễ cầu khấn, cả làng cùng tham gia múa xoè trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn rã với nhiều điệu đặc sắc: xòe bốn, xòe tập hợp, xòe đôi, ...
Người Bắc Hà giàu lòng mến khách, truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, giúp Bắc Hà trở thành một điểm đến du lịch văn hóa, sinh thái hấp dẫn. Nói đến du lịch văn hóa Bắc Hà, phải nhắc tới vùng văn hóa đồng bào Tày xã Tả Chải nổi tiếng với lễ hội lồng tồng và những điệu xòe sôi động.
Nền văn hóa dân tộc Tày xã Tả Chải, nhất là văn hóa lễ hội với hội xòe, lễ hội lồng tồng đặc sắc hấp dẫn... mang đậm nét văn hóa dân tộc với sự độc đáo, tinh tế. Ðó chính là thế mạnh để Tả Chải khai thác tiềm năng phát triển loại hình du lịch văn hóa, du lịch văn hóa cộng đồng. Ðồng bào Tày ở Tả Chải duy trì tổ chức đều đặn các lễ hội truyền thống. Ngoài Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, vào ngày rằm tháng chạp âm lịch bà con tổ chức lễ hội lồng tồng (xuống đồng), 2-2 âm lịch tổ chức lễ cúng rừng, sau vụ mùa vào tháng 10 âm lịch tổ chức lễ cơm mới... Ðến với lễ hội, du khách thật sự ấn tượng với nét đẹp văn hóa truyền thống tinh tế, độc đáo của đồng bào Tày, nhất là các hoạt động văn hóa - văn nghệ dân gian, hội xòe.
Lễ hội diễn ra các trò chơi như  đẩy gậy, đu quay giữa các đội ở các thôn. Các thôn cử ra các chàng trai khỏe mạnh đại diện tham gia. Trong vòng người đông đúc reo hò, cổ vũ, các chàng trai thi đấu hết mình để đem vinh quang cho thôn, bản và thể hiện mình trước các thôn nữ... Tiếp đó là hội diễn văn nghệ. Các đoàn mang đến lễ hội tiết mục văn nghệ đặc sắc nhất để thi tài.

- Lễ hội Trầu Sun

Lễ hội Trầu Sun là một trong những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng nông nghiệp của người Dao Đỏ ở Lào Cai. Trầu có nghĩa là “cầu”, “sun” có nghĩa là “xuân”, “trầu sun” mang ý nghĩa là lễ hội cầu mùa diễn ra phổ biến ở các làng bản vào dịp đầu xuân.
Trầu sun là một trong những nghi lễ cầu mùa rất đặc trưng của người Dao đỏ được các làng bản tổ chức thường xuyên hàng năm hoặc vài ba năm một lần vào các dịp đầu xuân cầu cho mưa thuận gió hoà, cây cối phát triển, mùa màng tốt tươi, không xảy ra dịch bệnh, gia đình ấm lo, hạnh phúc.
Từ sáng sớm, thầy cúng chính cùng đại diện các hộ gia đình chuẩn bị đầy đủ các mâm lễ cúng thần trời đất, thần làng … Sau khi đoàn đội lễ đến tại khu đất rộng đầu làng (nơi diễn ra hội làng), thầy cúng thay mặt dân làng thắp hương khấn báo thần làng, trời đất phù hộ cho dân làng mở hội cầu mùa, cầu phúc, cầu tài cầu cho con trai làng trên, con gái làng dưới, thuận duyên, bén lứa nên vợ, nên chồng, nhà nhà ấm no hạnh phúc…

*Ẩm thực Lào Cai

-Nấm chân chim Bắc Hà


Nấm chân chim là một sản phẩm độc đáo chỉ có ở Bắc Hà (Lào Cai), không những có giá trị dinh dưỡng cao mà còn là một loại dược liệu quý. Vị ngọt của nấm khiến người ăn khó quên được hương vị của vùng cao này.
Nấm có tên khoa học Schizophyllum commune. Qua những đợt khảo sát, thì Bắc Hà là vùng duy nhất ở Việt Nam có bán loại nấm chân chim này. Hình thái ngoài của nấm chân chim cũng dễ nhận biết, không có cuống, mũ dạng quạt - vỏ hến, đường kính từ 1 đến 3 cm, phủ lớp lông mịn mầu trắng xám, mép mũ hơi cuộn vào trong. Thịt nấm mầu trắng, mặt dưới là những phiến nấm, khi non mầu trắng, khi già mầu hồng thịt.
Những gùi nấm chân chim nặng trĩu được các thiếu nữ Mông mang đến chợ bán thành một dãy riêng. Nấm được để trong gùi hoặc bày trên các tấm vải, trải trên thảm cỏ. Chẳng cần cân đo chính xác, các cô gái cứ đong từng bát đầy, bán với giá bình dân: hai nghìn đồng một bát. So với các loại rau xanh khác ở chợ, nấm chân chim bao giờ cũng được bán hết nhanh nhất. Nấm chân chim mua về đem xào hoặc nấu canh với thịt. Thưởng thức hương vị ngọt ngào của nấm, người ăn sẽ có kỷ niệm khó quên về Bắc Hà. Ngoài công dụng làm thực phẩm, nấm chân chim còn có nhiều lợi ích khác, được liệt vào loại dược liệu quý, là đối tượng nghiên cứu thực nghiệm về sinh học, như sinh lý học và di truyền học.

-Nem măng đắng

Nem măng đắng là một món ăn dân dã mà độc đáo của các dân tộc Tày, Mường, Thái…mang lại vị lạ không thể quên cho những ai đã một lần thưởng thức khi đến với mảnh đất Lào Cai.
Măng đắng là món ăn rất phổ biến của các dân tộc Tày, Thái, Mường… ở khu vực miền núi phía Bắc. Măng được chế biến thành nhiều món nhưng độc đáo nhất là nem măng đắng. Hiện nay, nem măng đắng xuất hiện rất nhiều tại các nhà hàng, quán ăn và là món khách du lịch không thể bỏ qua mỗi khi có dịp đến với Lào Cai hay du lịch Sapa.
Nem măng đắng được chế biến theo bí quyết cổ truyền của người dân tộc Tày, độc đáo ngay từ phần vỏ bên ngoài. Theo kinh nghiệm của người hái măng lâu năm thì khi những tiếng sấm đầu mùa xuất hiện cũng là lúc măng trên rừng chuyển sang vị đắng. Người dân tộc mang theo gùi đi vào sâu trong rừng, chọn lựa những mầm măng mới nhú để đủ độ giòn và ngọt. Sau đó đem về luộc cùng chút muối cho bớt vị đắng chát, rồi mới lột lấy những tấm lá bánh tẻ, mềm và dai như những tấm lụa mỏng làm vỏ cho món ăn. Nguyên liệu này dùng như chiếc bánh đa nem thông thường trong món nem rán phổ thông.
Phần nhân của món nem măng đắng được làm từ thịt gà băm nhỏ. Gà phải là gà tơ, trọng lượng mỗi con không quá 0,6 - 0,7 kg. Thịt và xương được băm nhỏ cùng với củ kiệu, lá hẹ và các gia vị: hạt tiêu, nước mắm. Phần nhân được gói trong lá măng đắng và rán vàng. Món ăn được trình bày ra đĩa nhỏ, trông rất đẹp mắt. Khi ăn, thực khách sẽ cảm nhận vị đăng đắng của măng, vị ngọt của thịt gà tơ. Độ dẻo của vỏ nem cộng với cảm giác sậm sựt của nhân nem trong miệng sẽ làm cho thực khách thấy thú vị.
Khi ăn, nhiều người không khỏi trầm trồ bởi hương vị đậm chất núi rừng của món ăn, xen lẫn sự ngạc nhiên thích thú bởi vị giòn sần sật rất êm răng, vị hơi đăng đắng của măng, vị ngọt béo của thịt gà, và mùi thơm của các loại gia vị.

-Thịt lợn muối

Thịt lợn từ lâu là một món ăn quen thuộc dân dã đối với người dân Việt Nam và đây cũng là loại thực phẩm có nhiều cách chế biến món ăn nhất. Trong các món ngon được chế biến từ thịt lợn thì thịt lợn muối là một trong những món ngon trong danh mục ẩm thực Lào Cai.
Cách chế biến món thịt lợn muối hết sức đơn giản với những gia vị có sẵn trong vườn nhà. Gia vị của thịt lợn muối bao gồm các loại lá như lá quế, lá mít, lá trầu không, kèm theo ớt tươi, giềng và rượu cái nếp. Tất cả các loại lá đều được phơi khô và giã nhỏ, thịt lợn được thái vừa miếng rồi đổ rượu cái ướp cùng muối thật mặn và trộn lẫn các loại lá gia vị khô đã được giã nhỏ sau đó cho thịt vào hũ hoặc lọ để từ một đến hai tuần là có thể sử dụng được.
Khi sử dụng thịt lợn muối có thể rang hay nướng tuỳ theo khẩu vị của từng gia đình. Khi ăn, chúng ta có những cảm giác khác nhau. Có vị cay của giềng và ớt, vị thơm của quế, vị hơi chát của lá mít và lá trầu không. Đồng thời, một vị đặc trưng của thịt lợn muối là vị chua hoà lẫn vị mặn của muối, miếng thịt giòn và rắn chắc. Thịt lợn muối làm giảm đi độ béo và ngấy của mỡ. Khi ăn, chúng ta có thể lấy lại cảm giác về vị giác khi đã ăn quá nhiều đồ ăn khác mà không có cảm giác ngon. Thịt lợn muối là món ăn dân dã của người dân vùng cao đặc biệt là người Tày ở Bảo Yên.

-Thắng cố

Nếu người miền xuôi tự hào vì có phở, thì người miền núi tự hào vì có thắng cố. Nói đến thắng cố, ai cũng biết đó là đặc sản của đồng bào dân tộc Mông ở miền núi phía Bắc.
Thắng cố thì vùng núi phía Bắc nào cũng có, nhưng ở Lào Cai lại mang một vị riêng đặc sắc không thể lẫn vào đâu được vì được chế biến từ “lục phủ ngũ tạng” của con ngựa. Gia vị kèm theo không thể thiếu của thắng cố gồm thảo quả, địa liền cùng với hạt dổi, củ sả, quế chi… được tẩm ướp với thịt trước lúc đem xào rồi chế nước hầm nhừ trong chảo lớn.
Thắng cố xưa chủ yếu là xương bò, xương trâu ninh nhừ cùng với lục phủ ngũ tạng của gia súc ăn cỏ. Nồi thắng cố to, sôi lục bục nổi lên những tảng thịt, tảng mỡ to lên màu vàng nhạt trông mới hấp dẫn làm sao. Món ăn nhiều đạm như thế mới đủ ấm lòng những người đi chợ xa, lâu lâu mới có dịp thưởng thức món ăn đặc sản này.
Thắng cố ngay nay, nhất là thắng cố ở trong các nhà hàng mang thương hiệu "dân tộc", hương vị đã bay đi ít nhiều. Bởi nồi thắng cố ấy đã bị các gia vị tẩm ướp "tung hỏa mù" khiến thực khách bị mụ mị bởi mùi thơm, bởi vị ngọt của bột nêm, mỳ chính. Vì thế, rất nhiều du khách mùa đông đã cất công lên chơi miền sơn cước vào những dịp chợ phiên để thưởng thức thắng cố "thật".

Nguồn: tuoitre.vn



Thứ Hai, ngày 13 tháng 6 năm 2016

Du lịch Lai Châu

Nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, tiếp giáp với các tỉnh Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái với hơn 20 dân tộc sinh sống, Lai Châu mang trong mình những vẻ đẹp tiềm ẩn để phát triển du lịch. Với nhiều người, Lai Châu dường như chỉ là một tỉnh miền núi phía Bắc nghèo khó, nhưng với những người đam mê du lịch hẳn là không thể bỏ qua những địa điểm du lịch ở Lai Châu tuyệt vời.

* Địa điểm du lịch Lai Châu

- Đèo Ô Quý Hồ


Đèo Ô Quý Hồ nối liền 2 tỉnh Lai Châu và Lào Cai, nơi có đỉnh Fansipan huyền thoại. Nằm ở độ cao hơn 2000m giữa mây núi ngút ngàn, cung đường đèo hiện ra mềm mại, trải dài như dải lụa uốn mình sát những vách núi dựng đứng.
Đèo Ô Quy Hồ còn có tên gọi là đèo Hoàng Liên, do đèo vượt qua dãy núi Hoàng Liên Sơn, hoặc đèo Mây do trên đỉnh đèo quanh năm mây phủ, nhưng ít ai biết rõ xuất sứ cái tên “Ô Quý Hồ”. Ngoài con đường mê hoặc bởi những khúc cua tay áo liên tục, chính vì vậy đây là một trong những địa điểm yêu thích của dân phượt. Ngoài ra Ô Quý Hồ còn hấp dẫn ở sự khác biệt rất lớn về nhiệt độ ở hai phía của con đèo.
Đến Ô Quý Hồ vào mùa đông, nếu may mắn các bạn có thể được chiêm ngưỡng một cảnh tượng hiếm gặp ở Việt Nam đó là những bông tuyết và hiện tượng băng đá.

- Bản Nà Luồng


 Nhờ cảnh đẹp hoang sơ cùng với các giá trị văn hóa truyền thống còn lưu giữ lại, bản Nà Luồng, xã Nà Tăm (Tam Đường, Lai Châu) đã trở thành điểm du lịch thu hút khách đến thăm quan.Theo lời giải thích của người dân địa phương nơi đây, dịch theo nghĩa của tiếng dân tộc Lào thì từ “Luồng” có nghĩa là “con rồng”, “Nà” có nghĩa là “ruộng”.
Tương truyền, nơi đây là mảnh đất trù phú, địa hình bằng phẳng có núi non xanh biếc lại có dòng Nậm Mu trong vắt, hiền hòa chảy quanh năm, thuận lợi cho việc cấy lúa, trồng ngô. Cảnh sắc thơ mộng con người lại chân thật, giàu lòng mến khách, nên rồng thường xuống tắm và nằm nghỉ trên bãi ruộng…
Để giữ gìn các làn điệu dân ca, dân vũ, đặc biệt là điệu múa xòe và lăm vông; đã hơn 10 năm nay, người dân trong bản thành lập đội văn nghệ với sự đóng góp công sức của 20 thành viên, thường xuyên mang lời ca tiếng hát để động viên, cổ vũ tinh thần lao động, cầu cho mưa thuận gió hòa, xây dựng cuộc sống văn hóa ở bản làng.

- Pu Sam Cap



Là một quần thể gồm nhiều hang động nằm trên hệ thống núi Pu Sam Cap có độ cao từ 1.300m đến 1.700m so với mực nước biển, trên tỉnh lộ 129 nối thành phố Lai Châu với huyện Sìn Hồ, cách trung tâm thành phố chừng 05 km bao gồm 3 hang động lớn là: Thiên Môn, Thiên Đường và Thủy Tinh.
“Sam” theo tiếng Thái có nghĩa là “ba” nên nơi đây còn được gọi là “núi ba hòn”. Địa danh này đang ngày càng dược nhiều người biết đến không chỉ bởi sự hùng vĩ, hoành tráng mà còn bởi dấu tích gắn liền với sự hình thành và phát triển của vùng đất Phong thổ, Tam đường, gắn với quá trình định cư của người Thái, những cuộc thiên di của người H’Mông và những sự tích huyền thoại về qua trình khai thiên, lập địa.
Quần thể thắng cảnh Pu Sam Cap là một sản phẩm kì vĩ của tạo hoá, với cảnh sắc vừa thơ mộng quyến rũ, vừa kì bí huyền ảo nhưng cũng không kém phần tráng lệ nguy nga.

- Khám phá thị trấn Sìn Hồ



Cách thành phố Lai Châu chừng 60km về phía Tây theo đường quốc lộ 4D, Sìn Hồ là huyện vùng cao nằm giữa tỉnh Lai Châu, có huyện lỵ là thị trấn Sìn Hồ. Huyện Sìn Hồ có 56.000 cư dân gồm 15 dân tộc cùng chung sống trên diện tích 1.746km². Về mặt địa lý, Bắc Sìn Hồ giáp Vân Nam (Trung Quốc), Đông giáp huyện Phong Thổ, Nam giáp huyện Tủa Chùa (Điện Biên) và Tây giáp huyện Mường Tè.
Theo tiếng bản địa, “Sìn Hồ” là nơi tập trung nhiều con suối. Ở độ cao 1.500m so với mực nước biển, cao nguyên Sìn Hồ được ví như nóc nhà của tỉnh Lai Châu. Nơi đây khí hậu khá giống với thị trấn Sa Pa, quanh năm mát mẻ tạo điều kiện cho nhiều giống hoa, quả ôn đới như mận, đào, lê… phát triển.

*Lễ hội văn hoá Lai Châu

- Lễ hội Hạn khuống

Người Thái ở Tây Bắc có rất nhiều hình thức sinh hoạt văn nghệ trong các dịp cưới xin, mừng nhà mới, mừng cơm mới... Đó là những dịp vui chơi, múa hát, thi trống, thi chiêng nhộn nhịp, đông vui.  
Người Thái ở Tây Bắc có rất nhiều hình thức sinh hoạt văn nghệ trong các dịp cưới xin, mừng nhà mới, mừng cơm mới... Đó là những dịp vui chơi, múa hát, thi trống, thi chiêng nhộn nhịp, đông vui. Tuy nhiên những dịp như thế không thường xuyên, phải một năm hai năm mới có một lần, mà đi kèm là cỗ bàn tốn kém. Còn "Hạn khuống" thì thường xuyên, diễn ra hằng ngày, hằng tuần, nghi thức tổ chức đơn giản thuận tiện, phù hợp với mọi lứa tuổi, nhất là thanh thiếu niên. "Hạn khuống", nơi tụ hội đông vui, thường sinh hoạt vào các buổi tối mùa thu, và mùa đông khô ráo, công việc mùa màng tương đối nhàn rỗi. Đó cũng là mùa có bông, có sợi để cho các thiếu nữ Thái vừa hát đối đáp với bạn trai vừa trổ tài cán bông, kéo sợi, thêu thùa, may vá...
Cách đây không lâu, bản Thái nào cũng có từ dăm ba đến hàng chục "Hạn khuống". "Hạn khuống" là linh hồn của bản mường, tượng trưng cho sự no ấm, phồn vinh của xã hội Thái. "Hạn khuống" nghĩa tiếng Thái là sân sàn, tức là một cái sàn dựng ở ngoài trời, có hình vuông hoặc chữ nhật với diện tích 15 - 20 m2. Sàn được làm cao cách mặt đất 1 - 1,5 m, mặt sàn lát bằng tre hoặc phên nứa, chung quanh thưng bằng phên đan mắt cáo hay chấn song bằng tre, gỗ. Giữa sàn có một bếp lửa để cung cấp ánh sáng và sưởi ấm vào các đêm hò hát. Đáng chú ý, "Hạn khuống" được trang trí năm cây nêu mà người Thái gọi là lắc xáy. Cột lắc xáy làm bằng những cây bương lớn, phát hết cành lá ở thân, chỉ để lại chùm lá trên ngọn chót. Thân lắc xáy được sơn thành những đoạn xanh, đoạn đỏ, cứ khoảng 2 m người ta lại treo một vòng tròn bằng tre mà chung quanh có gắn những hình nộm, chim, ve, các loại hoa quả... sắc mầu rực rỡ. Trong năm lắc xáy có một cây chính dựng ngay cạnh bếp lửa, còn bốn cây kia dựng bốn góc sàn. Trong khi sinh hoạt, mỗi "Hạn khuống" có một nhóm xao lắc xáy, gồm 5 - 10 cô gái, trong đó có một trưởng nhóm (tổn khuống) người được ngồi ở chân "lắc xáy gốc".
"Hạn khuống" mang đậm tính quần chúng, do các thiếu nữ Thái trong các bản đứng ra tổ chức và quản lý sinh hoạt, nhưng được thanh niên nam tham gia giúp đỡ xây dựng, được các cụ già và mọi người ủng hộ, giúp đỡ sinh hoạt. Đêm khánh thành "Hạn khuống", nam thanh, nữ tú trong bản tới góp rượu, thịt... mời mọi người trong bản ăn mừng tại chỗ và từ đó những đêm sinh hoạt "Hạn khuống" bắt đầu.
Trước tiên, tổn khuống và các xao lắc xáy ngồi vào vị trí của mình. Họ vừa cán bông, kéo sợi, thêu thùa... vừa thân mật chuyện trò tiếp đón các bạn trai. Trong đêm thơ mộng, ngọn lửa "Hạn khuống" sáng lung linh, các cột lắc xáy lấp lánh muôn mầu sắc, thanh niên trong vùng rủ nhau đến các "Hạn khuống", mỗi đoàn cử ra 1 - 2 người đàn hay, hát giỏi để đối đáp xin được lên sàn. Sau những cuộc hát đối đáp, thử thách khá kỹ lưỡng, tổn khuống cho phép các chàng trai lên sàn tham gia sinh hoạt. Và cuộc vui văn nghệ bắt đầu, diễn ra đến tàn đêm.
Thường thì, những ai đã quen biết đều được tự do lên sàn tham gia, những người lạ phải qua thử thách. Các cụ già, người lớn tuổi đến "Hạn khuống" để góp vui, dạy dỗ, chỉ bảo con cháu lời nói đẹp, câu hát hay. Trẻ em đến "Hạn khuống" vừa chung vui, vừa học ăn, học nói, học hát, học quay xa, kéo sợi... Hết hát lại nói đối đáp, hết đối đáp lại cười vui. Câu chuyện "Hạn khuống" tưởng như không bao giờ kết thúc. Từ chuyện của bản, của mường đến chuyện riêng của mỗi gia đình, mỗi thành viên; từ chuyện yêu đương lứa đôi, đến chuyện đi nương, đi rẫy... đều trở thành những đề tài đối đáp ở "Hạn khuống". Càng về khuya, "Hạn khuống" càng đi vào chiều sâu của tâm linh, ý tứ, các cô gái quây quần bên bếp lửa trò chuyện, đối đáp với các chàng trai. Nhiều đôi trai gái tâm đầu, ý hợp, từ sinh hoạt "Hạn khuống" đã thành vợ, thành chồng ăn đời, ở kiếp hạnh phúc với nhau.
"Hạn khuống" không những chỉ là nơi sinh hoạt văn nghệ, nơi để nam thanh nữ tú đến tìm hiểu nhau, mà còn là nơi trao đổi, bàn bạc mọi công việc của cả cộng đồng, của mỗi gia đình và của mỗi thành viên. "Hạn khuống" còn là nơi để dạy dỗ và giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ trong cộng đồng người Thái. Các đêm "Hạn khuống" đã mang lại sự nghỉ ngơi, không khí ca hát lành mạnh, làm nhộn nhịp, ấm áp bản mường của đồng bào Thái.

- Tết Ngô “uỷ la lóng” của người Cống

Tết ngô là ngày tết cổ truyền của dân tộc Cống  Đây là ngày  tết lớn, tết cả của người Cống nên quy mô tổ chức to nhất so với các lễ tết khác trong năm. Một không khí lễ hội náo nức ngập tràn trong bản làng. Từ ngày 28, 29, 30 tháng Năm âm lịch hàng năm,

các gia đình đã giết một con lợn để làm cơm mời dân bản đến ăn tết cùng gia đình. Tập quán của người Cống   ăn tết từ nhà nọ sang nhà kia, hàng xóm láng giềng, anh em trong dòng họ thay nhau mời mọi người đến dự tết cùng với gia đình, không khí lễ tết càng thêm ấm áp, gắn bó.
 Tết ngô được tổ chức khi mùa ngô thu hoạch xong, diễn ra đúng vào ngày 01 tháng Sáu âm lịch hàng năm. Trước kia tết thường kéo dài tới 7 ngày, hiện nay tết rút ngắn chỉ còn từ 3 đến 4 ngày.
Để đón tết ngô, người Cống thường phải chuẩn bị trước nửa tháng. Không khí nhộn nhịp của ngày tết về đến từng gia đình từ 3 đến 4 ngày trước khi ngày tết chính diễn ra. Nhà nhà trong bản đều chuẩn bị  ngày tết của gia đình mình sao cho thật chu đáo và vui vẻ nhất. Mọi người trong gia đình đi kiếm củi, lên rừng lấy măng, hái nấm,  lên nương bẻ ngô, xuống suối bắt cá, bắt cua về để chuẩn bị cho ngày tết ngô.
Trong ngày tết ngô có rất nhiều món ăn được chế biến từ ngô non như ngô luộc, bánh ngô, cơm ngô, có cả bánh chưng, cơm lam… Các gia đình đều chế biến các món ăn  thật ngon để dâng cúng cho tổ tiên của mình. Hai món ăn không thể thiếu được trong ngày tết ngô là bánh ngô và cơm ngô. Bánh ngô được chế biến từ ngô nếp non nạo nhỏ trộn đều với đường sau đó lấy lá chít gói lại to khoảng 2 đầu ngón tay. Bánh ngô được đồ bằng chõ xôi khoảng 1 giờ là ăn được. Cơm ngô là ngô non nạo nhỏ trộn với gạo nếp và cũng được gói trong lá dong thành những gói to đem đồ lên trong chõ xôi, cơm chín có mùi thơm rất quyến rũ của ngô nếp non với hương thơm của gạo nếp.
viec lam Hai Phong cho những bạn có nhu cầu tìm việc

Sáng ngày 01 tháng Sáu âm lịch. Mọi gia đình người Cống   đều chuẩn bị một mâm cơm để cúng tổ tiên. Đây là mâm cúng  đầu năm mới, tất cả mọi người trong gia đình đều phải tham gia. Lễ vật cúng gồm: Thịt lợn “vạ sà”, Thịt gà “ga sà”, cơm ngô “sa tu hằng”, bánh ngô “sa tu pe le”, 4 con cua “làng tò”, Nấm rừng “mung xi”, Ngọn bí luộc “pa khạm chá công”
Đêm giao thừa tết ngô, 30 tháng Năm âm lịch, bản làng người Cống   tưng bừng với những điệu múa đêm giao thừa đón năm mới, múa “ pê lêm giao”. Đây là điệu múa tập thể đông người,  theo một vòng rộng cả nam cả nữ, cũng có thể xếp thành từng đôi một nam và một nữ… Múa đón giao thừa được tổ chức ở sân rộng, xung quanh đống lửa to và tất cả mọi người đều tham gia vào cuộc vui để đón chào một năm mới.

*Ẩm thực Lai Châu

- Lợn cắp nách



Lợn cắp nách là loại lợn đặc sản của vùng cao Tây Bắc. Giống lợn này được bà con dân tộc thả rông trong rừng, tự đi kiếm ăn nên mỗi con chỉ nặng chừng 10 – 15 kg. Do ăn các loại lá cây, rau cỏ trong rừng nên thịt của chúng rất chắc và thơm ngon. Lợn cắp nách được chế biến thành nhiều món ngon như hấp, nướng, nấu giả cầy, hầm, nấu canh… Món nào cũng được tẩm ướp và nấu cùng các loại lá, hạt mang phong vị núi rừng, mang lại cảm giác lạ miệng, đặc biệt cho du khách lần đầu thưởng thức.

-Xôi tím


Màu tím đặc trưng và hấp dẫn của xôi được nhuộm bằng loại cây có tên là Khẩu cắm (loại cây này chỉ có ở miền núi). Cây Khẩu cắm bẻ cả cành, lá rửa sạch, đem luộc. Luộc lá sôi chừng năm phút, khi thấy nước chuyển sang màu tím, sánh là được. Để nước lá nguội bớt rồi chút gạo nếp vào ngâm thêm 2 đến 3 giờ.
Đồ xôi tím phải đồ bằng chõ gỗ được đục từ thân cây sung, lửa củi mới có được mùi vị thơm ngon hơn cả. Đồ đến khi hạt gạo chín nục, xới từng lớp xôi thấy màu tím tươi, bóng, hạt xôi dẻo mà không dính, có mùi thơm ngào ngạt là đã hoàn thành quy trình nấu xôi.
Kiếm việc làm có mức thu nhập cao

- Rêu đá nướng

Màu xanh của rêu, vị thơm dậy mùi của tỏi cùng với những hương vị đặc trưng của núi rừng Tây Bắc đã tạo ra món ngon khó quên trong lòng mỗi thực khách đến với Lai Châu: “ Rêu đá”. Rêu được coi là loại rau sạch đặc biệt của người dân Lai Châu.

Để làm món rêu nướng, sau khi sơ chế và vắt hết nước, đem tẩm với các gia vị như sả, gừng, bột ớt, hạt dổi, quả muối, hạt sẻn…rồi được gói vào lá dong và vùi trong tro nóng, bên trên phủ một lớp than hồng. Khi vùi than cần phủ đều để giữ sao cho rêu chín đều mà không bị cháy.
Đợi đến khi lớp lá bên ngoài chuyển thành màu đen thì người ta mới lấy ra rồi bóc từng lớp lá. Mùi thơm của gia vị cùng mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng, trông giống như tảo biển, mềm, ngậy ăn với cơm nóng thì ngon tuyệt.

- Canh tiết lá đắng


Trước kia, khi món ăn này chưa phổ biến, để tìm được lá đắng về làm canh không phải đơn giản, bởi thứ cây này chỉ mọc ở nơi ven rừng, khe suối. Thường thì chỉ khi có khách quý, chủ nhà mới đi lên rừng tìm lá về nấu canh như một sự thể hiện lòng thân tình, mến khách. Bây giờ, bà con vùng này đã mang cây về trồng tại vườn nhà, trên nương, trên rẫy, bạn có thể mua được lá vào mỗi dịp chợ phiên.
Nguyên liệu và cách nấu canh lá đắng cũng thật đơn giản. Chỉ cần ít phổi lợn băm nhỏ, một miếng tiết và vài thứ rau thơm cùng với nắm lá đắng (có thể lá tươi hoặc đã phơi khô) vò nát, sau đó đun nước sôi cho tất cả nguyên liệu vào nấu chín kỹ là bạn đã có một bát canh lá đắng thơm ngon để thưởng thức. Không chỉ là một món ăn ngon, canh lá đắng còn có tác dụng giải rượu và chữa được bệnh về tiêu hóa.

- Măng nộm Hoa Ban

 Nếu ai đã có dịp ghé qua các bản làng người Thái ở Lai Châu sẽ không chỉ biết đến một truyền thuyết đầy cảm động về Hoa Ban – Măng Đắng mà còn được thưởng thức một món ăn có chứa đủ vị: đắng, chua, cay, mặn, ngọt, bùi của món Măng nộm hoa ban.
Măng có rất nhiều loại, loại nào cũng dùng làm nộm được nhưng ngon nhất thì có măng nứa và măng đắng. Măng đắng cần sắt nhỏ ngâm nước muối 30 phút sau đó luộc 2 lần rồi vớt ra để ráo, còn nếu là măng nứa đem luộc rồi tước nhỏ. Hoa ban cần chọn những bông tươi, ngắt lấy những cánh hoa dày để dùng. Tiếp theo cần chọn được một con cá suối tươi ngon, mình dày, đem nướng trên than củi, gỡ lấy thịt.
Sau đó pha hỗn hợp nước trộn chanh, tỏi, ớt, rau húng và rau mùi đã thái nhỏ. Cuối cùng trộn nhẹ nhàng đều tay  măng, hoa ban, cá và nước trộn. Tất cả hoà quyện tạo nên một hương vị đặc trưng của núi rừng, gắp từng miếng nộm du khách cảm nhận được vị đậm đà, thơm nồng của cá nướng, vị bùi bùi, ngầy ngậy của hoa ban, và vị đăng đắng của măng tươi.



Du lịch Tuyên Quang

Tuyên Quang hiện nay có tới hơn 400 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có gần 125 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, và hơn 200 di tích cấp tỉnh. Cùng nhiều địa điểm du lịch tâm linh hấp dẫn du khách. Hệ thống thiên nhiên đa dạng với những cánh rừng nguyên sinh, các hồ, suối khoáng, suối nước nóng còn giúp Tuyên Quang có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng rất lớn. Ngoài ra với một số lượng không nhỏ các dân tộc đang cư trú tại đây tạo cho Tuyên Quang sự đa dạng về văn hóa xã hội, phong tục tập quán, rất thích hợp cho những du khách nào muốn trải nghiệm những điều mới lạ và thú vị khi khám phá các dân tộc bản địa tại đây.

*Địa điểm du lịch Tuyên Quang

-Khu di tích lịch sử Tân Trào


Khu di tích lịch sử Tân Trào nằm trong một thung lũng nhỏ thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, cách Thành phố Tuyên Quang khoảng 41 km, cách Hà Nội khoảng 150 km, với diện tích khoảng 6.633 ha.
Tân Trào là khu di tích lịch sử của cách mạng Việt Nam thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt. Tân Trào là thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành hội nghị toàn quốc ngày 13 tháng 8 năm 1945 để quyết định tổng khởi nghĩa. Ðại hội quốc dân đã họp tại đây ngày 16 tháng 8 năm 1945, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh bầu ra một chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và quân giải phóng Việt Nam làm lễ ra quân.
Chiến khu Tân trào ghi đậm dấu ấn của cách mạng Việt Nam và ngày nay đây là một địa chỉ du lịch thu hút nhiều du khách.
Cây đa Tân Trào cách đình Tân Trào khoảng 500 mét về phía Đông. Dưới bóng cây đa này, chiều 16 tháng 8 năm 1945, Việt Nam Giải phóng quân đã làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 đại biểu. Võ Nguyên Giáp đọc bản Quân lệnh số 1 và ngay sau đó hành quân về giải phóng Hà Nội.

Cây đa Tân Trào

Đình Tân Trào là một đình nhỏ được xây dựng vào năm 1923 theo kiểu nhà sàn, cột gỗ, ba gian hai chái, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và là nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá của dân làng. Đình thờ 8 vị thành hoàng làng đại diện cho các thần sông, thần núi của làng Tân Lập, xã Tân Trào. Dưới mái đình này, ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã họp Quốc dân Đại hội để quyết định lệnh tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn quy định quốc kỳ,quốc ca và cử ra một chính phủ lâm thời.

Đình Tân Trào

Đình Hồng Thái cách đình Tân Trào gần 1 km trên đường đi Sơn Dương, đình được xây dựng tại địa phận của làng Cả, xã Tân Trào. Năm 1919, đình có tên là đình Làng Cả hay đình Kim Trận. Đình Hồng Thái còn là trạm giao liên và là nơi huấn luyện quân sự trong suốt thời kỳ kháng chiến. Đình còn là điểm dừng chân của các đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội, là trạm thường trực của "An toàn khu của Trung ương đóng ở Tân Trào".

Đình Hồng Thái

Lán Nà Lừa đây là một căn lán nhỏ, nằm ở sườn núi Nà Lừa, cách làng Tân Lập gần 1 km về hướng đông, lán được dựng bằng tre theo kiểu nửa sàn, nửa đất của người miền núi, dưới các đám cây rậm rạp. Lán do đơn vị giải phóng quân dựng để Hồ Chí Minh ở và làm việc từ tháng 6 năm 1945 đến cuối tháng 8 năm 1945. Lán Nà Lừa có hai gian nhỏ, gian bên trong là nơi Hồ Chí Minh nghỉ ngơi, còn gian ngoài là chỗ Hồ Chí Minh làm việc và tiếp khách. Tại đây, ngày 4 tháng 6 năm 1945, Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị cán bộ để củng cố căn cứ địa cách mạng, thành lập khu giải phóng và Quân giải phóng, chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội.
Lán Nà Lừa
Đến Tân Trào du khách cũng có thể tham quan các di tích có giá trị như: Bản Khuổi Kịch, đình Thanh La, Vực Thia, làng Tân Lập, lán Cảnh Vệ - Điện Đài, lán Đồng Minh, sân bay Lũng Cò, đèo Chắn, Đồng Man - Lũng Tẩu, Khấu Lẩu - Vực Hồ, Ban Tuyên huấn Trung ương, hang Thia, hang Bòng, thôn Lập Binh, xã Trung Yên, hầm An toàn của Bác, hầm Trung ương Đảng, hầm Chính phủ và Bảo tàng Tân Trào.

- Suối khoáng Mỹ Lâm


Suối khoáng Mỹ Lâm thuộc địa phận xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, cách thành phố Tuyên Quang khoảng 15 km, theo quốc lộ 37. Nguồn nước ngầm trong lòng đất này được nhà địa chất học người Pháp C. Madrolle phát hiện từ năm 1923, với nhiệt độ lên đến 67ºC.  Có mạch nước nằm ở độ sâu hơn 150m, vì vậy, nước khoáng Mỹ Lâm rất trong và có thể uống. Với hàm lượng sulfuahydro trong nước khá cao, chiếm đến 5mg /lít, suối khoáng này còn được gọi với tên là “suối khoáng sulfua”. Đây còn được đánh giá là một trong số ít những mỏ nước khoáng tốt nhất tại miền Bắc nước ta. Như vậy, đã gần 100 năm sau ngày được phát hiện, nhưng nguồn nước nơi đây vẫn rất dồi dào.

- Hồ Na Hang


Na Hang là huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây có hồ Na Hang nay vẫn còn vẹn nguyên vẻ hoang sơ của một miền sơn cước. Trong nhiều năm gần đây, vẻ đẹp kì ảo của hồ Na Hang đã dần được đánh thức và trở thành một sản phẩm du lịch đặc sắc.
Trung tâm huyện Na Hang có hồ Na Hang, hai bên bờ có nhiều núi và những ngôi đền cổ. Núi Pắc Tạ, ngọn núi cao nhất ở Na Hang, có hình như chú voi cúi đầu bên nậm rượu, đổ bóng xuống mặt nước hồ xanh. Dưới chân núi Pắc Tạ có một ngôi đền cổ thờ người thiếp của tướng quân Trần Nhật Duật (TK XIII). Đền đẹp và nổi tiếng linh thiêng, là điểm đến khó quên của du khách khi đến Na Hang.
Hồ Na Hang còn được ví như một “Hạ Long giữa đại ngàn”. Nơi đây có tới 99 ngọn núi quần tụ lại với nhau ở khu vực xã Thượng Lâm. Mỗi ngọn núi có một hình dáng khác nhau, tất cả in hình lên nền trời xanh, hòa lẫn với làn nước xanh thăm thẳm, khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng trước sự kì diệu của tạo hóa.
Xung quanh khu vực hồ Na Hang còn có rất nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kì thú khác như ghềnh thác, những vỉa đá tự nhiên hình thù kì lạ, cùng những ngọn thác nổi tiếng như Khuổi Sung, Khuổi Nhi, Pắc Ban (thác Mơ) quanh năm tuôn chảy tung bọt như làn tóc mây trắng tô điểm cho màu xanh của đại ngàn.
Ở đây có rừng Phiêng Bung, được ví như một “lá phổi xanh” cung cấp không khí trong lành cho cả vùng hồ. Nơi đây còn có những bản người Dao, người Tày sinh sống. Trên đường vào Phiên Bung, từ trên cao nhìn xuống, những bản làng thấp thoáng trong màu xanh của núi rừng trông thật bình yên và dung dị

*Lễ hội văn hoá

-Lễ hội Trung Thu


Những năm gần đầy, tết Trung thu Tuyên Quang được nhiều người biết đến với lễ hội đường phố và rước mô hình đèn khổng lồ dưới ánh trăng rằm.Thế rồi, thu xếp công việc, chuyến hành trình tìm hiểu về tết Trung thu Tuyên Quang của tôi được bắt đầu.
Hầu hết, các mô hình được mô phỏng theo các tích truyện cổ dân gian, các nhân vật huyền thoại, nhân vật lịch sử hay những con vật đã trở nên rất đỗi quen thuộc.
Lễ hội Trung thu tại Tuyên Quang không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh và thu hút nhiều du khách đến với Tuyên Quang, mà còn giúp các em nhỏ có thể hiểu thêm về thiên nhiên, quê hương, đất nước và nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

-Lễ hội chọi dê Hàm Yên


Hàm Yên là huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang với các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông... cùng chung sống. Ở đây, hầu như nhà nào cũng gây dựng được đàn dê để tăng thu nhập. Đón năm mới, Hội chọi dê được tổ chức thường niên, giúp bà con nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, vừa khuyến khích tăng gia chăn nuôi, phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống.
Đặc tính lành, gần với hoang dã giúp cho việc gây dựng và nuôi đàn dê mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình mà không tốn nhiều công chăm sóc. Con dê luôn thể hiện sự bền bỉ, quả cảm, chinh phục các đỉnh cao và khả năng sinh sản mãnh liệt. Dê đực đầu đàn có thể quản lý tới mấy chục dê cái trong đàn, vị trí đầu đàn ấy luôn phải bảo vệ bằng các cuộc chiến đấu khốc liệt với những chú dê trẻ cạnh tranh. Trước đây, mỗi lúc nông nhàn, nhà nọ thách nhà kia mang dê ra chọi vui. Cứ thế thành lệ, hội chọi dê hình thành với quy mô lớn hơn, thành hẳn cuộc thi có giải.

*Ẩm thực Tuyên Quang

- Cơm lam Tuyên Quang


   Đối với đồng bào Tây Bắc, cơm lam không chỉ là món ăn cổ truyền, mà còn là món ăn linh thiêng, gắn với văn hoá tộc người, với sự sống, và theo tín ngưỡng dân gian gắn với mỗi vòng đời của con người. Người Thái tin rằng, ngoài thế giới mà mọi người đang sống quen gọi là nhân gian, còn có một thế giới của người trời – Mường Then, là nơi ở của các vị thần, tổ tiên và các linh hồn.
Ở Mường Then, có 12 vị thần tối cao cai quản trời đất, trong đó Then Chất-Chát là vị thần quyết định tới việc sinh tử, cho một linh hồn trên trời xuống nhân gian làm người và trở về trời sau khi người ấy mất đi. Theo chuyện kể thì khi xuống nhân gian, các linh hồn đều ăn cơm lam nên từ xưa người Thái đã có phong tục ngay khi sinh con, người mẹ đã ăn cơm lam, treo cùng nhau thai của đứa trẻ nơi bìa rừng như một thủ tục thông báo về sự ra đời của đứa trẻ Then Chất-Chát. Nếu không, đứa trẻ sẽ không được ghi tên trong sổ sinh tử mà chỉ được sống tạm, sau này sẽ không được về Mường Then.
 Đến nay, phụ nữ thời kỳ cho con bú vẫn được dùng cơm lam. Để bảo đảm tốt sức khỏe người mẹ, cơm lam được nấu an toàn trong vật đựng tự nhiên là ống tre, ống nứa và tránh được các kim loại nặng như gang, đồng, sắt,… dễ bị oxy hóa từ các loại nồi, niêu, xoong, chảo… trong quá trình đun nấu. Hơn thế nữa, nấu cơm lam sẽ không bị mất đi chất dinh dưỡng ở hạt gạo, nó sẽ giúp người mẹ tiết sữa nhiều hơn. Sau khi ăn cơm lam, họ thường đem các ống nứa gác lên những cành sung đầu nhà, với niềm tin cây sung là cây sai quả, nhiều nhựa sẽ giúp người mẹ sinh nhiều con, có nhiều sữa.
Cơm lam lại được làm từ những nguồn nguyên liệu không bao giờ cạn. Người dân dùng cây tre cùng họ với cây lúa là cây sống đời không bao giờ chết; nước trong ống tre là nước kết tinh của trời đất lúc nào cũng có ở trong lõi tre, vỏ tre, nước suối nguồn thì không bao giờ cạn kiệt vì được chảy ra từ lòng đất và ở những nơi cao nhất của đất trời…
tìm viec lam 24h tại web tuyển dụng của Nhật
Cơm lam còn được ăn với thịt cá nướng bắt từ loại cá nhỏ dưới khe chưa bao giờ vướng phải sự ô nhiễm của môi trường hay sự hoành hành của độc chất, hay ăn với thịt chim nướng, lợn rừng nướng, những con vật vừa ở dưới nước vừa ở trên trời. Miếng cơm lam trắng như tấm lòng con người thơm thảo, được chấm với muối vừng đậm đà như lòng người thủy chung.

- Bánh nếp nhân trứng kiến


Đến với những ngôi nhà sàn người Tày thuộc Tuyên Quang để thưởng thức những món ngon dân dã và độc đáo trong đó có món bánh nếp nhân trứng kiến. Người ăn nếm từng miếng nhỏ để cảm nhận mùi vị thơm ngon của nếp, vị ngậy béo của nhân trứng kiến quyện lẫn hành và thì là. Tuy nhiên cũng có người vì nhạy cảm, thì có thể bị dị ứng khi ăn món bánh này giống như người bị dị ứng khi uống rượu ong.

- Bánh gai Chiêm Hoá


 Bánh gai Chiêm Hoá cũng đóng góp hương vị đặc sắc vào văn hoá ẩm thực đất Tuyên Quang. Bánh gai được làm từ lá gai, gạo nếp, đỗ xanh, dừa tơi, mứt bí, hạt sen, dầu chuối, mỡ lợn. Muốn có chiếc bánh thơm ngon, phải chọn gạo nếp cái hoa vàng, đãi sạch rồi ngâm với nước lạnh qua đêm, sau đó để ráo nước và xay thành bột. Lá gai phơi khô tước bỏ hết gân, thái nhỏ, đem luộc rồi vắt kiệt nước, xay nhuyễn, trộn với bột và mật mía làm vỏ bánh. Hương vị của lá gai quyện vào mùi thơm của gạo nếp với lá chuối khô, tạo nên hương vị rất đặc trưng.
Don xin viec làm  giúp ứng viên tạo ấn tượng với nhà tuyển dụng

-Gỏi cá bỗng sông Lô



Cá bỗng để chế biến món gỏi phải là cá nuôi được 1,5-2 năm, trọng lượng đạt 2,5 – 3kg, thịt chắc. Gỏi cá Tuyên Quang không dùng thính gạo mà dùng chính xương cá băm nhỏ rang vàng, cán mịn rồi trộn đều với lạc rang giã rối, ăn cùng những lát cá thái mỏng kèm theo gia vị, rau thơm và các loại lá rừng nước sốt gia vị sánh ngọt hấp dẫn, thích thú vô cùng.

Nguồn: http://sovhttdltuyenquang.vn/