Thứ Ba, ngày 31 tháng 5 năm 2016

Du lịch Quảng Bình

Quảng Bình - khúc ruột miền Trung, là nơi sơn thủy hữu tình, có nhiều danh lam thắng cảnh say lòng người, di tích ghi dấu lịch sử một thời, và di sản thiên nhiên thế giới cùng nhiều đặc sản hấp dẫn.Quảng Bình - khúc ruột miền Trung, là nơi sơn thủy hữu tình, có nhiều danh lam thắng cảnh say lòng người, di tích ghi dấu lịch sử một thời, và di sản thiên nhiên thế giới cùng nhiều đặc sản hấp dẫn. 

*Địa điểm du lịch

-Hang Sơn Đoòng




Trên thực tế, Sơn Đoòng được anh Hồ Khanh, một nông dân địa phương phát hiện từ năm 1991 trong một chuyến đi rừng tìm trầm nhưng sau đó thì không thể tìm đường quay lại được. Hồ Khanh kể về cơ duyên cái lần anh tình cờ phát hiện ra Sơn Đoòng: Những năm 1990 – 1991, vì mưu sinh cuộc sống, cũng như nhiều thanh niên khác trong làng Khanh phải luồn rừng khai thác lâm sản.
Một lần, khi đang đạp rừng đi tìm trầm hương thì Khanh gặp một cơn mưa giông đột ngột, đang tìm chỗ để trú mưa tình cờ anh phát hiện ra một vòm hang đá. Định bụng sẽ chui vô đó để trú mưa, nhưng khi đến cửa hang thì Khanh bắt gặp một luồng gió mạnh thổi liên tục từ trong cửa hang ra. Không biết đó là một hiện tượng tự nhiên, Khanh nghĩ ngay đến câu chuyện truyền thuyết về những con thuồng luồng sống trong hang đá đang phun gió ra ngoài mà sợ “sởn tóc gáy”, anh không dám vào hang nữa, nép vào vách đá, chờ mưa tạnh rồi đi tiếp.
“Đó là lần đầu tiên tui đặt chân đến cửa hang Sơn Đoòng, nhưng rồi cuộc sống mưu sinh đầy vất vả nên tui đã quên hẳn nó ngay sau đó” – Khanh nói.
Đến năm 2007, khi đoàn thám hiểm Hoàng gia Anh tiến hành đợt tìm kiếm hang động  mới tại Phong Nha - Kẻ Bàng, anh Khanh cũng đã đưa đoàn đi tìm hang Sơn Đoòng hết 2 ngày nhưng cũng không thấy. Trong chuyến đi ấy, chính ông Howard Limbert khi quan sát hiện tượng tự nhiên khu vực xung quanh đã khẳng định với anh Khanh rằng, khu vực xung quanh đây nhất định phải có một cái hang lớn. Thời gian không cho phép và đoàn thám hiểm phải quay về.
Nhưng trước khi trở về nước Anh, ông Howard Limbert đã kịp nhờ anh Khanh cố gắng tìm cho được cái hang đó. Chỉ một lời nhắn nhủ như vậy, thế mà giữa năm 2008, một mình Khanh đã khăn gói vô rừng. May mắn là lần đó, Khanh đã tìm lại được cái hang mà năm 1991 anh đã trú mưa....
Du khách quốc tế đã biết đến Sơn Đoòng như một thương hiệu du lịch đẳng cấp thế giới. Điều này thể hiện qua kết quả xếp hạng của tạp chí New York Times đưa Quảng Bình vào thứ 8 trong 52 điểm du lịch hấp dẫn nhất hành tinh trong năm 2014. Quảng Bình đã được ghi danh vào bản đồ du lịch thế giới nhờ Sơn Đoòng.” - Ông Nguyễn Châu Á
Huyền bí và mênh mông đủ làm choáng ngợp, vẻ đẹp của Sơn Đoòng được báo chí quốc tế cho rằng xứng đáng với mức độ nguy hiểm mà du khách phải đối mặt và số tiền mà họ đã bỏ ra khi khám phá nơi đây. Hang Sơn Đoòng dài khoảng 9km, có rừng rậm nhiệt đới và một dòng sông. Không gian bên trong hang chứa được một tòa nhà 40 tầng.
Nhưng điều quan trọng mà nhiều người chưa biết đến là việc hình thành hang động Sơn Đoòng không phải theo cách truyền thống của các nhà địa chất vẫn nghĩ, là đá vôi bị hoà tan bởi nước mưa, lâu dần theo thời gian hàng triệu năm, nước bào mòn các hòa tan thành hang động vĩ đại.

Với siêu hang động Sơn Đoòng câu chuyện ở một hướng khác, nó nằm trên một đường đứt gãy hướng Bắc -Nam, chính trục đứt gãy này tạo điều kiện cho hang động lớn nhất thế giới hình thành một cách mạnh mẽ qua dòng chảy không gì cản được của dòng nước lũ và bào mòn thành hang động tuyệt vời mà các nhà khoa học gọi là “Một vũ trụ bị bỏ quên nằm ẩn mình trong một hệ sinh thái độc đáo. Điều này không được tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên hành tinh này”. Các nhà khoa học Mỹ ví von, đây như là “chén thánh” đối với các nghiên cứu sinh học, địa mạo trái đất.

Người ta cũng phát hiện trong lòng nó, một khu rừng cách mặt đất 400m, độc nhất vô nhị trên hành tinh. Bất cứ ai khi đặt chân đến khu rừng này đều trầm trồ bởi đó là tiếng vọng của di sản cổ xưa về rừng rậm sót lại ở dưới mặt đất 400m, các thân cây tự tiến hoá bằng cách không phát triển đường kính, mà vươn cao để tạo thành cách sống mới với thế giới yếu sáng. Nhưng điều kỳ lạ là trong trường hợp tối đen của hang động, người ta nghi ngờ không thể loài nào sống được, thì nhà sinh học Becher phát hiện một loài rận gỗ mới với thế giới. Nó là loài có đôi mắt thô sơ, bị “mù”, tức sống không cần mắt mà cảm giác từ bộ râu với các xung động nhạy cảm.
Chưa hết, Sơn Đoòng đã có sức hút kỳ lạ với BBC, NatGeo và nhiều kênh truyền thông lớn khác... khi nó thường xuyên được xuất hiện ở đó...
Tháng 8/2013, tour du lịch khám phá hang Sơn Đoòng chính thức hoạt động đón nhóm du khách đầu tiên. Kể từ khi mở cửa đến nay, mới chỉ có 243 du khách được khám phá Sơn Đoòng. Theo số liệu thống kê, vào mùa cao điểm mỗi tuần có 3.500 khách du lịch đến Phong Nha – Kẻ Bàng nhưng chỉ 8 người trong số đó được khám phá Sơn Đoòng.
Với giá tour 3.000USD/người cho 6 ngày 5 đêm thì không phải ai cũng có tiền. Theo ông Nguyễn Châu Á, Giám đốc Công ty Oxalis, đơn vị lữ hành duy nhất đưa khách thám hiểm Sơn Đoòng thì trong số 243 khách đã có 98% là khách quốc tế. Ông Á cho rằng, vấn đề ở đây chưa hẳn là tiền, vì đây là một tour du lịch mạo hiểm, chỉ dành cho những du khách có sức khỏe, có kinh nghiệm phiêu lưu mạo hiểm.
Viec lam Ha Noi cho những bạn có nhu cầu tìm việc

Để tổ chức một tour thám hiểm Sơn Đoòng cho 8 người công ty phải tổ chức đội ngũ phục vụ (hướng dẫn viên và porter) chuyên nghiệp lên tới 25 người với đầy đủ các thiết bị hỗ trợ đảm bảo an toàn nhất cho du khách. Điều này giải thích vì sao, du khách muốn đến đây sẽ phải hồi hộp “xếp hàng” vì hiện tại du khách quốc tế đã đăng ký kín vé tour Sơn Đoòng đến năm 2016. Mặc dù vậy, danh sách tour 2015 vẫn chưa được công bố.
Anh Hồ Khanh, người đầu tiên phát hiện ra Sơn Đoòng hiện nay là “người dẫn đường số 1” trong các chuyến khám phá Sơn Đoòng chia sẻ: “Con đường dẫn vào cửa hang cách xa đường lớn và đầy hiểm trở. Có những đoạn đường phải leo núi thẳng đứng và tụt xuống vực sâu thăm thẳm. Hai bên đường đầy rẫy rắn rết và nhiều sự đe dọa hiểm nguy khác. Nếu không có những thiết bị hỗ trợ và sự can đảm thì bạn đừng có mơ đến được Sơn Đoòng. Để đến được con đường dẫn vào cửa hang Sơn Đoòng bắt đầu hành trình thám hiểm cũng đã là một cuộc phiêu lưu rồi”.

-Động Phong Nha Kẻ Bàng




Thuộc vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới 50km về phía tây bắc, động Phong Nha được coi là "Thiên Nam đệ nhất động" của Việt Nam, được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới.
Từ sông Son, du khách đi hơn 30 phút để tới động Phong Nha. Đến trước cửa động, cảnh núi non sông nước quyến rũ, thiên nhiên hùng vĩ với vô vàn hình ảnh kỳ thú hiện ra như khêu gợi trí tưởng tượng của con người.

Cửa động hình thang, rộng khoảng 20 - 25m, cao 10m, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, cảm giác oi nồng của mùa hè nơi miền Trung gió Lào lập tức biến mất, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn, một thế giới u linh, kỳ thú … hiện ra.
Theo các nhà khoa học, quá trình phong hóa tạo thành hang động ở Phong Nha là quá trình tự nhiên đã diễn ra từ cách đây 250 triệu năm. Dạng địa hình chính của Phong Nha-Kẻ Bàng là núi đá vôi và núi đất, độ cao trung bình 600 mét, thành hẹp, vách đứng. Động Phong Nha nằm ở phần đông nam khối núi đá vôi Kẻ Bàng trong một vùng đá vôi bị phong hóa mạnh, diện tích khoảng 10.000 km2, kéo dài 200 km trên phía bắc dãy Trường Sơn, thông cả sang Lào. Ở khối núi đá vôi này có hiện tượng nước chảy ngầm. Dòng chảy trên mặt có thể nhìn thấy là các con sông Son, Troóc, Chày, Rào Thương bắt nguồn từ các con suối nhỏ, đến hang Én thì suối lớn chảy ngầm vào lòng núi đá vôi để tạo thành các hang động.

Kiếm việc có mức thu nhập cao
Với chiều dài 7.729m, sâu 83m, cao 50m với rất nhiều nhánh hang phụ lớn nhỏ bao gồm cả hang Bi Kí, hang Tiên và hang Cung Đình. Đây là loại hình động nước chảy ngầm trong lòng núi với nhiều thạch nhũ đặc trưng. Tương truyền rằng, chính những măng đá rũ xuống ở cửa hang đã góp phần tạo nên cái tên đầy thi vị "Phong Nha", tức là "Gió luồn qua kẽ răng".
Phong Nha nổi tiếng với những khối đá độc đáo được đặt tên theo các hình dạng tự nhiên như "Sư tử", "Kỳ lân", "Vô chầu", "Cung đình" hay "Tượng Phật". Sau khoảng 19km chảy ngầm dưới dãy Trường Sơn, dòng sông hiện ra ở cửa hang mang một màu nước xanh biếc vào mùa khô  và sắc đỏ vào mùa mưa. Du khách cũng có thể khám phá sự kiến tạo các măng đá, thạch nhũ tại một vài trong số 14 phòng bên trong hang động.  Bên trong khoảng 1km là hang Bi Kí, một nhánh phụ nằm sâu trong động Phong Nha cách cửa động khoảng 600m. Người ta tin rằng có một khoảng thời gian nào đó từ thế kỷ IX đến thế kỷ XI, người Chăm đã chọn nơi đây làm nơi thời cúng.
Phong Nha là hang động tiêu biểu nhất về giá trị thẩm mỹ và sự độc đáo tại Di sản Phong Nha - Kẻ Bàng, được Hiệp hội Hoàng gia Anh bình chọn là một trong những hang động đẹp nhất thế giới với 7 tiêu chí: Hang động có cửa hang cao và rộng; có bãi cát, bãi đá ngầm đẹp nhất; có sông ngầm đẹp nhất; có hệ thống thạch nhũ kỳ ảo và tráng lệ nhất; có các hang khô cao và rộng; có Hồ nước ngầm sâu và đẹp; có nước dài nhất.

- Vũng Chùa- Đảo Yến



Sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn vũng Chùa - đảo Yến (Quảng Trạch, Quảng Bình) làm nơi an nghỉ cuối cùng, vùng biển này trở thành một địa danh thu hút sự quan tâm của hàng triệu người dân VN, dự báo sẽ là một điểm đến mới của du khách trong và ngoài nước trên đường thiên lý xuyên Việt.
Vũng Chùa - đảo Yến nằm dưới chân dãy Hoành Sơn, cách đèo Ngang khoảng 10km về hướng đông nam. Từ trên đỉnh Thọ Sơn phóng tầm mắt về hướng biển là khung cảnh non nước hữu tình, biển nước mây trời bình yên và khoáng đạt. Vũng Chùa được bao bọc bởi ba đảo là Hòn La, Hòn Gió và Hòn Nồm (đảo Yến) nên nơi đây rất kín gió. Những ngày gió bão tàu thuyền thường về đây trú ẩn.
Theo lời kể của những người cao niên ở làng Thọ Sơn, tên gọi vũng Chùa xuất phát bởi vùng biển nơi đây yên bình như “vũng”, từ hàng trăm năm trước có một ngôi chùa rất linh thiêng nhưng qua bao bể dâu nay chỉ còn nền móng. Đảo Yến tên gốc là Hòn Nồm, gọi theo hướng gió. Sau này người dân gọi là đảo Yến bởi trên đảo có nhiều chim yến về đây làm tổ. Đảo Yến rộng khoảng 10ha cách bờ khoảng 1km, vẻ đẹp hoang sơ, như bức bình phong nổi lên giữa biển.

Trên đảo không có dân ở, chỉ có vài công nhân từ Nha Trang ra đây dựng trại để khai thác yến. Núi Thọ nối liền núi Sú tiếp nối mũi Rồng tạo thành một cánh cung vững chãi đâm ra biển Đông, che chắn gió đông bắc; dưới chân là bãi biển cát trắng vàng trải dài tít tắp, cây cối xanh tươi.
Theo ông Võ Quang Đạt, chủ tịch UBND xã Quảng Đông, vũng Chùa là vùng đất có vị trí đắc địa, hướng nhìn ra biển Đông thoáng đãng nhưng lại kín gió. Nơi đây thế núi hùng vĩ dáng tựa thân giao long, có mũi Rồng đâm ra tận mép sóng, biển trời hiền hòa, người dân chất phác, can trường.
Vũng Chùa là một trong những thắng cảnh đẹp nằm trong vịnh Hòn La mà theo sách Đại Nam dư địa chí ước biên của nhà văn hóa Cao Xuân Dục thời nhà Nguyễn gọi là vịnh La Sơn. Vịnh La Sơn được bao bọc bởi những ngọn núi vững chãi như bức tường thành, phía đất liền là dãy Hoành Sơn “thế như rồng cuốn hổ ngồi, trùng trùng điệp điệp lan ra tận biển” với đỉnh mũi Rồng che chắn phía tây - bắc, ở phía đông có nhiều đảo nhỏ.
Vùng biển Hòn La nổi tiếng với những sản vật dùng để cung tiến triều đình. Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, đặc sản nơi đây ngoài yến sào, sò huyết, tôm hùm còn có loài “cửu khổng quyết minh” hay còn gọi là bào ngư, là những sản vật thường mang đi cung tiến triều đình. Vùng đất này được người dân nơi đây coi là linh thiêng bởi tương truyền năm xưa vua Lê Thánh Tông xuất thủy quân đánh Chiêm Thành đã dừng lại nơi đây lập đàn thần linh phù hộ. Khi chiến thắng trở về, nhà vua về đây lập đàn tạ ơn đất trời.
Đứng trên đỉnh Thọ Sơn nhìn ra bốn bề trời biển, một không gian bình yên và khoáng đạt, có thể cảm nhận được phần nào lý do Đại tướng chọn nơi đây để yên giấc ngàn thu. Ông Lương Văn Luyến, giám đốc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Quảng Bình, nói rằng vũng Chùa là một vùng đất đẹp, núi non hùng vĩ, sóng biển hiền hòa. Theo ông Luyến, trong tương lai đây sẽ là điểm đến rất giá trị, kết nối với thắng cảnh đèo Ngang, đền thờ Liễu Hạnh Công Chúa... tạo thành một tuyến du lịch tâm linh đầy sức thu hút, không chỉ phong cảnh đẹp mà còn rất thiêng liêng.
Khi địa danh vũng Chùa được nhắc đến rất nhiều trong những ngày này, tôi lại nhớ đến một nhà “Quảng Bình học” đã qua đời mà người Quảng Bình không ai không biết: cụ Nguyễn Tú! Thuở cụ còn sống trong căn nhà nhỏ ở Cộn (phía tây thành phố Đồng Hới), cứ mỗi lần ra công tác ở Quảng Bình chúng tôi đều cố tìm cách để được cụ chỉ giáo cho đôi điều mình còn băn khoăn về vùng đất lạ lùng này. Bởi cụ Tú là một người Quảng Bình cực kỳ đặc biệt, chưa hề qua một trường đại học hay viện nghiên cứu nào, nhưng với tình yêu xứ sở một cách “bất khả tư nghì”, cụ Tú đã viết nên cả chục pho địa chí về miền đất Quảng Bình.

Trong những cuốn sách viết về Quảng Bình, vùng đất vũng Chùa đảo Yến - nơi an nghỉ cuối cùng của Đại tướng - cụ Tú đã nhắc đến rằng: “Ngoài vũng Chùa ở đèo Ngang ra, vùng biển Quảng Bình không có những quần đảo che chắn, chịu trực tiếp của các trường gió và sóng biển Đông, hạn chế chiều sâu của những cửa sông...”. Suốt dọc dài cả trăm cây số bờ biển tỉnh Quảng Bình, chỉ có bờ biển vùng vũng Chùa có các đảo án ngữ phía trước. Cũng từ vị thế đặc biệt này mà những ngư dân ra khơi vào lộng trên vùng biển này đã có câu ca đúc kết: “Gió bớc thì dựa vũng Chùa/ Gió nồm nam dựa Chụt: bốn mùa như ao” (gió bớc: gió đông bắc - NV).

Và chủ nhật 13-10, Đại tướng sẽ về nằm lại đây, bên sườn núi Thọ trông ra biển Đông. Trên nhiều trang Facebook có nhiều người đã dùng cả Google Map để định vị vị trí an táng Đại tướng, rồi gióng theo những phương vị trên bản đồ để luận về ý nguyện của người lính già khi về với tổ tiên vẫn muốn nằm bên bờ biển để cùng cháu con trấn giữ cõi bờ. Nhưng như câu nói của Đại tướng: “Nếu không có chiến tranh, tôi là một thầy giáo”. Ông là một vị tướng của hòa bình, và nói cho cùng chẳng ai muốn chiến tranh để rồi trở thành danh tướng cả. Ông sẽ về nằm đó, bên triền núi, mỗi bình minh lên sẽ trông thấy những con thuyền của ngư dân về bến, yên bình trong nắng sớm. Ông nằm đó, mỗi buổi chiều về được nhìn đàn yến chao liệng trên sóng nước trước giờ về tổ.

Không phải không có những người dân quê Lệ Thủy thoáng chút buồn khi ông đã không về nằm lại giữa cánh đồng nơi quê nhà chôn nhau cắt rốn. Nhưng như nhiều người đã nói, với Tướng Giáp, có nhiều nơi chốn trên đất nước này ông có thể chọn để nằm lại như khu rừng Trần Hưng Đạo, trên dãy núi Dền Sinh của Cao Bằng, ở đó có một đỉnh núi gọi là đỉnh Slam Cao, nơi ông đã đặt đài quan sát và chỉ huy những người lính của mình đánh đồn Phai Khắt -trận đánh đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Cũng có thể đó là cánh rừng Mường Phăng ở Điện Biên, là chiến khu ATK những năm kháng Pháp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về với Quảng Bình nắng gió, miền quê nghèo dù vẫn còn cơ cực nhưng ấm tình hồn hậu. Một cuộc trở về, cuối cùng và mãi mãi... Nhưng với tất cả những gì mà chúng ta đã chứng kiến những ngày qua, khi hàng triệu người dân áo vải đã khóc thương ông với tột cùng tôn kính, hẳn rồi trong tâm thức của đời dân, một ngày nào đó Đại tướng sẽ hiển thánh như danh tướng Trần Hưng Đạo thuở nào, vì được muôn đời dân yêu kính mà hiển linh nên Đức Thánh Trần.

*Lễ hội văn hoá ở Quảng Bình


- Lễ hội chèo cạn, múa bông

Ở vùng biển Quảng Bình, nhiều nơi có lăng thờ cá voi như ở làng Sa Động, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới. Trong truyền thuyết ở xã Bảo Ninh xưa, có nhiều chuyện cá voi giúp ngư dân và quân lính nhà Nguyễn thoát khỏi phong ba bão táp rất kỳ lạ, càng làm cho ngư dân kính phục và vô cùng tôn trọng, biết ơn cá voi như một linh thần, gọi là Cá Ông.

Cách đây gần 100 năm, một con cá voi lớn do bị bão nên trôi dạt vào cửa Nhật Lệ và bị chết. Ngư dân đưa cá Ông và bờ ở địa phận giữa làng Sa Động và Trung Bính an táng. Lễ táng cá Ông được tiến hành rất long trọng, ngư dân các làng lân cận nghe tin cũng đến viếng cúng. Vì cá Ông rất lớn nên phải táng ở bờ sông. Nhân dân phải sang Phú Hải chở đất thịt về đắp lên cá để chôn. Mấy năm sau người ta cất bốc hài cốt cá Ông và cất giữ ở lăng của làng trong một hậu tẩm nửa chìm nửa nổi ở sau lăng thờ cá Ông. Bộ xương cá Ông cũng rất lớn. Hai cái ngà dài hơn 3m, các xương sườn như những cái đòn gánh. Dân làng gọi cá này là Cố và đến dịp rằm tháng Tư âm lịch hàng năm thì tổ chức lễ hội Cầu ngư để ra quân đánh vụ cá nam.

Lễ hội cầu mùa được tổ chức 3 đêm liền từ đêm 14 đến đêm 16 tháng tư. Ngoài phần lễ cầu được mùa cá còn có phần hội múa bông - chèo cạn.

Trong phần lễ tế Thần cá Ông có hai cụ già "lên đồng" phán những lời linh thiêng. Sau phần lễ là phần hội múa bông - chèo cạn ở sân lăng. Đội chèo cạn do 24 cô gái chưa chồng và hai người "cái hò" một nam một nữ hò cái. Hai người cái hò này mặc áo quần dài, thắt lưng điều, nữ thì chít khăn màu nguyệt bạch, chân đất; nam thì mặc áo lụa đỏ dài, đầu chít khăn hồng mỏ diều, chân đi đôi guốc mộc. Các cô gái chèo cạn mặc áo dài màu mỡ gà hoặc màu hoa lý, quần trắng, đầu búi tóc cài trâm đồng có đính bông hoa nhài, tay cầm một cây chèo gỗ sơn màu xanh đỏ dài 1,5m, động tác chèo nhịp nhàng, nhẹ êm theo nhịp hò khoan. Có một đội nhạc sinh nhị, đàn nguyệt, sáo, kèn bầu và trống đại phụ họa cho hò khoan.

Làn điệu hò khoan chèo cạn gồm 5 mái hò: hò mái dài, hò mái ba, hò mái nện, hò kéo lưới và hát khoan. Ở giữa các câu hò, các cô gái chèo cạn đệm hò con gồm các câu: "a xố đi xố...hà" hoặc "ớ là...hố". Nội dung các câu hò thường là cầu trời đất, thần linh phù hộ cho trời yên biển lặng cho dân đánh bắt hải sản được mùa.

Đội ngũ múa bông (múa đèn) gồm 20 thanh niên chưa vợ, sức vóc cường tráng, cân đối đồng đều nhau và do một người điều khiển. Các đội viên mặc đồng phục, quần trắng, áo năm thân màu hồng hoặc đỏ, chân quấn xà cạp, đầu chít khăn mỏ quạ trắng, hay tay cầm đôi đèn lồng hình chậu tứ giác, trong có đèn nến thắp sáng. Người điều khiển mặc võ phục, áo chẽn đỏ thắt lưng xanh, đội mũ võ tướng, giữa có thắt hoa hồng vải đỏ, tay cầm đôi đèn lồng hình chậu lục giác. Đội múa bông uy nghi tiến vào sân lăng. Đội trưởng vừa múa đôi đèn vừa đi dẫn đội biểu diễn các đội hình biến hóa rất đẹp như một chiếc thuyền sáng rực trên sông, đội hình như rồng bay phượng múa. Trong khi đó, tiếng trống thúc giục kèm theo tiếng nhạc réo rắt du dương.

- Lễ hội rằm tháng ba Minh Hóa

Cứ vào ngày rằm tháng ba âm lịch hằng năm, người dân ở huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa (Quảng Bình) lại vào hội rằm tháng ba. Dù lễ hội này theo thời gian đã có nhiều đổi thay so với trước đây, nhưng lễ hội năm nay vẫn mang nhiều đặc tính riêng biệt của con người và núi rừng nơi đây...

Từ xa xưa, người dân Minh Hóa đã dặn lòng với nhau rằng: “Thà ốm mà nằm, ai mà bỏ chợ rằm tháng ba...”. Ai đã từng đến dự lễ hội rằm tháng ba ở Minh Hóa, dẫu chỉ một lần thôi cũng sẽ không bao giờ quên được những ấn tượng đặc biệt của nó. Đó là vẻ huyền ảo của ánh trăng rằm miền sơn cước quyện trong tiếng hát đúm (một điệu hát giao duyên của người Nguồn) bày tỏ tình yêu lứa đôi...
Từ sớm tinh sương của ngày rằm, các đoàn đại diện cho các làng, xã cùng nhau đến vùng thác Bụt ở Dốc Cáng, xã Yên Hóa. Tại đây họ dâng hương cúng Bụt (như ông Bụt trong truyện cổ tích). Chính từ nơi đây đã xuất hiện lễ hội rằm tháng ba Minh Hóa. Người già còn kể lại: ngày xưa có ba anh em nhà nọ lên lèn ông Ngoi tìm mật ong. Họ đi lạc vào một hang động. Trong đó có cơ man nào là tượng Bụt bằng đá...
Ba anh em họ mỗi người vác một tượng về. Đến thác Bụt họ xuống suối tắm. Nhưng khi vác tượng lên lại để trở về nhà thì không tài nào vác được nữa. Mãi sau họ mới vác được một tượng về đến Hói Chàm và đặt ở đó. Từ đó đến nay dòng thác mà ba anh em nhà kia tắm và để tượng Bụt lại, được gọi là thác Bụt. Vậy là mỗi năm, cứ đến lễ hội rằm tháng ba mọi người lại đến đây cúng Bụt cầu tự, cầu tài, cầu lộc chuẩn bị cho một lễ hội rằm mới.
Người già ở Minh Hóa cho biết ngày xưa, lễ hội rằm tháng ba của đồng bào người Nguồn ở Cơ Sa, Kim Linh gồm ăn tết rằm tháng ba, hội chợ rằm tháng ba vào ngày sáu (tức là ngày 16-3 âm lịch). Ngày rằm đó, tất cả mọi nhà của người Nguồn đều làm cỗ bàn, xôi thịt cúng ông bà tổ tiên. Dân làng ở tổng Cơ Sa đem xôi oản lên chùa cúng Bụt cầu tự, cầu tài, cầu lộc cho mọi nhà yên vui, thịnh vượng.

Còn dân làng ở tổng Kim Linh thì làm lễ cầu đảo, cầu cho mưa thuận gió hòa, xóm làng bình yên. Người từ bốn phương trong tỉnh, ngoài tỉnh và trong vùng Cơ Sa, kinh Linh đổ về dự chợ Sạt-hội chợ rằm-với đủ các loại hàng hóa lâm thổ sản. Đặc biệt là những thức ăn truyền thống đặc trưng của người dân Minh Hóa như ốc suối luộc, bồi ngô chấm mật ong rừng, khoai môn...
Đối tượng được ưu tiên đi dự hội chợ rằm tháng ba của người Nguồn là trẻ em và nam thanh nữ tú. Thanh niên đến dự hội chợ rằm là dịp gặp gỡ tìm hiểu nhau. Họ mặc những bộ áo quần đẹp nhất, chiếc ô đủ sắc màu thổ cẩm... Nhiều cặp nam nữ dù ở cách xa nhau hàng ngày đường núi, nhưng qua hội chợ rằm tháng ba đã nên vợ thành chồng. Dưới ánh trăng rằm, nam nữ quây quần bên nhau hát đúm.
Lễ hội cầu mùa mang ước nguyện lớn của ngư dân, tôn trọng và cúng tế cá voi, cầu cho trời yên biển lặng, đánh bắt hải sản bội thu cho cuộc sống ấm no đầy đủ

* Ẩm thực Quảng Bình

-Bánh lọc Mệ Xuân




Lớp bột lọc trong vắt, dai dai làm vỏ, nhân là tôm sông ngọt lừ, xào chung với thịt mỡ và mộc nhĩ đậm vị tiêu cay, bọc trong lớp lá chuối xanh thoảng hương quê nhà, bởi thế món bánh bột lọc tôm sông Quảng Bình lại đắt khách đến vậy. Một đĩa bánh 10 cái có giá 20.000 đồng. Ngoài bánh lọc lá, ở quán còn có bánh lọc trần, bánh lọc rán, bánh nậm và trứng vịt lộn ăn kèm nộm đu đủ chua cay rất ngon miệng. Bánh lọc mệ Xuân không chỉ bán cho người dân là chủ yếu mà hàng ngày còn được đóng gói thành từng thùng vận chuyển đi nhiều nơi.

-Súp lươn





Không rán giòn lên như ở miền Bắc, lươn ở miền Trung để nguyên con tẩm ướp thật đậm đà rồi xào thật cay để át đi mùi tanh. Súp lươn ăn kèm bánh mì vào bữa sáng rất hợp. Cháo lươn, miến lươn cũng là những lựa chọn không kém phần hấp dẫn. Ngoài những miếng chanh tươi cắt sẵn, người ta còn dọn kèm chùm tiêu xanh cho những ai thích vị cay nồng.

-Bánh canh chả cá that lát




Bạn có thể đã thưởng thức bánh canh ghẹ, bánh canh cua, bánh canh sườn… ở nhiều nơi, tuy nhiên bánh canh chả cá thát lát thì không phải nơi nào cũng có. Do vậy, đừng bỏ qua cơ hội ghé con đường gần khu chợ Đồng Phú khi ghé thăm thành phố Đồng Hới và hỏi thăm quán cháo sáng giản dị có đặc sản này. Loài cá nước ngọt này được giã nhuyễn với gia vị đậm đà, không thể thiếu tiêu, vắt thành từng miếng vừa ăn, cho vào bát cháo canh nước xương, từng sợi bánh dài quyện vào sóng sánh trông rất kích thích vị giác. Quán còn có bánh canh cá lóc, giá từ 20.000 đồng một bát, thường ăn kèm với ram giòn.

-Bánh bèo


Nếu Huế nổi tiếng với bánh bèo chén thì Quảng Bình lại có món bánh bèo xếp thành từng khoanh tròn trắng mịn trên đĩa, quệt lên chút mỡ hành, tôm chấy và bì lợn chiên giòn rụm. Bột bánh mềm mượt nhưng vẫn có độ dai trong nhất định, tôm được tuyển chọn kỹ lưỡng, bát nước mắm pha mặn ngọt vừa đủ độ, ớt cay nồng vương mãi trên đầu lưỡi khi vừa nếm qua. Bánh bèo có giá 15.000 đồng/đĩa và chắc chắn bạn sẽ phải gọi thêm đĩa thứ hai trước khi ra về.

Nguồn: https://svhttdl.quangbinh.gov.vn

Thứ Tư, ngày 18 tháng 5 năm 2016

Du lịch Quảng Trị

Quảng Trị giáp Quảng Bình ở phía Bắc, Thừa Thiên – Huế ở phía Nam, nước bạn Lào ở phía Tây và biển Đông ở phía Đông. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, con người trên mảnh đất này với truyền thống lao động, cần cù, chịu khó, truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường đã làm nên những kỳ tích hào hùng, để lại nhiều di tích lịch sử vô giá.


Tim viec nhanh với mức lương cao tại website Careerlink.vn 


* Địa điểm du lịch:

-Cầu Hiền Lương - Sông Bến Hải :



Cầu Hiền Lương - Sông Bến Hải. Con sông một hình ảnh đẹp về quê hương, về sự bình yên. Thế nhưng lại có một con sông phải mang trong mình nỗi uất hận, oằn mình chịu cảnh chia cắt quê hương chia cắt đất nước, một con sông bị xẻ làm đôi 2 bờ giới tuyến. Con Sông Bến Hải ở Quảng Trị từng phải chịu nỗi chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam hơn 20 năm ròng rã trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Sông Bến Hải bắt nguồn từ núi Động Chân thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vĩ tuyến 17 từ Tây sang Đông rồi đổ ra cửa Biển Cửa Tùng. Sông Bến Hải có tổng chiều dài gần 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200m, nơi hẹp nhất khoảng 20 -30m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của tỉnh Quảng Trị.

Sông Bến Hải lúc đầu có tên Minh Lương. Vào thời vua Minh Mạng do trùng với chữ “Minh” phạm phải kiêng húy tên của Vua (chữ “Húy” đồng ngĩa với “Kỵ” tức là kiêng kỵ , theo luật phong kiến trong phạm vi quốc gia mọi thần dân kiêng kị tên huý của vua không được phép dùng để đặt tên cho con cái trong gia đình… cũng như không được phép dùng trong văn tự hay trong lời nói hàng ngày). Do vậy tên làng, tên sông đều đổi thành Hiền Lương. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông “Bến Hói”, tiếng địa phương “hói” có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc lệch ra là Bến Hải.


Cho đến nay Cầu Hiền Lương đã qua nhiều lần thay đổi cấu trúc, nhưng chiếc cầu lịch sử vẫn là chiếc cầu từ 1952 đên 1967 thì bị máy bay Mỹ ném bom phá sập. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần.

Năm 1954 Hiệp định Genève ký kết quy định lấy vĩ tuyến 17 sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời; sau hai năm sẽ thực hiện cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Việt Nam (quy định vào tháng 7/1956). Trong tuyên bố chung của Hội nghị Giơnevơ 1954 ghi rõ: "Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ".

Kiếm viec lam da nang nơi có môi trường làm việc thân thiện

Đế quốc Mỹ với âm mưu từ trước đã ra sức thực hiện ý đồ độc chiếm miền Nam Việt Nam, nhằm tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Mỹ đã hất cẳng pháp khỏi miền nam Việt Nam, ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam. Cả dân tộc ta phải thực hiện một cuộc trường chinh kéo dài hơn 20 năm chia cắt.

“Cách một con sông mà đó thương đây nhớ
Chung một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa”

Một dòng sông rộng không quá 100 mét, một chiếc cầu dài 178 mét, với 894 tấm ván bắc qua mà dân tộc Việt Nam phải đi suốt 21 năm ròng, đổi không biết bao xương máu (Ba nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và hàng ngàn nghĩa trang trong khắp cả nước với hàng vạn cán bộ chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống). Có những trận chiến ác liệt với bom đạn, và cũng có những trận chiến ác liệt nhưng không một tiếng súng. Những cuộc đấu trí, đấu lý rất gay gắt và quyết liệt giữ ta và Địch bên lề giới tuyến 17.

- Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn:



Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách trung tâm tỉnh lỵ (thị xã Đông Hà) khoảng 38km về phía Tây bắc; cách quốc lộ 1A (ở đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía Tây bắc.

Sau ngày đất nước thống nhất, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã phê chuẩn dự án xây dựng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tại địa bàn tỉnh Quảng Trị làm nơi tưởng niệm, tôn vinh những người con thân yêu của tổ quốc đã anh dũng hy sinh xương máu của mình trên các nẻo đường  Trường Sơn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nghĩa trang được khởi công xây dựng vào ngày 24/10/1975 và hoàn thành vào ngày 10/4/1977. Chỉ huy xây dựng là Bộ tư lệnh sư đoàn 559 với sự tham gia của hơn 40 đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Ngoài ra còn có tổ công nhân chuyên khắc chữ vào bia đá xã Hoà Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi quy tụ 10.333 phần mộ của các liệt sỹ; có tổng diện tích 140.000m2; trong đó, diện tích đất mộ là 23.000m2, khu tượng đài 7.000m2, khu trồng cây xanh 60.000m2, khu hồ cảnh 35.000m2 và mạng đường ô tô rải nhựa trong khuôn viên nghĩa trang 15.000m2. Phần đất mộ được phân thành 10 khu vực chính.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi an nghỉ đời đời của các chiến sĩ đã hy sinh trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong thời kì chống Mỹ cứu nước. Đây là một công trình đền ơn đáp nghĩa đồ sộ nhất, quy mô nhất có tính nghệ thuật cao, thể hiện lòng thương nhớ sâu sắc, niềm biết ơn và sự tôn vinh thầm kín của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đối với những người con yêu quý trên mọi miền đất nước đã không tiếc máu xương cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước.


- Di tích khu lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn :



Là tên gọi chung cho một quần thể di tích bao gồm: Nhà lưu niệm đồng chí Lê Duẩn – nơi sinh hoạt của gia đình đồng chí từ khi chuyển từ Bích La Đông lên Hậu Kiên và hiện nay là nơi thờ tự hai cụ thân sinh và đồng chí tại quê hương. Nhà tưởng niệm, là nơi tổ chức lễ viếng thăm của khách hành hương và khách tham quan. Nhà trưng bày lưu niệm là nơi trưng bày những hiện vật, tư liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp đồng chí Lê Duẩn.
Khu di tích lưu niệm Tổng bí thư Lê Duẩn là một di tích lịch sử lưu niệm danh nhân tiêu biểu của Tỉnh Quảng Trị, gắn liền tuổi trẻ và những năm tháng hoạt động cách mạng của đồng chí ở quê nhà với sự tồn tại và phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nằm trên khuôn viên có diện tích 400m2.. Nguyên trước đây là nhà và v­ườn của cụ thân sinh Lê Hiệp. Nhà làm bằng gỗ, khá khang trang. Trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, ngôi nhà bị đốt cháy nhiều lần, chỉ còn trơ lại nền và khu vườn hoang vắng. Sau khi đất  nước hoà bình thống nhất (1976), huyện Triệu Hải (cũ) cùng bà con quê hương đã xây dựng nên một ngôi nhà để vừa làm nhà l­ưu niệm, thờ cúng gia tộc vừa làm nơi nghỉ ngơi cho đồng chí Lê Duẩn mỗi lần về thăm quê. Ngôi nhà đ­ược khởi công xây dựng vào tháng 2/1976 và hoàn thành vào cuối năm đó. Nhà lúc đầu lợp tranh, xung quanh che chắn bằng gỗ ván. Cuối năm 1977, mái tranh bị hỏng nặng do sự tác động của nắng m­ưa, gió bão nên UBND tỉnh Bình Trị Thiên đã cho lợp lại bằng ngói và tồn tại cho đến đầu năm1994. Nhà dài 9m, rộng 4,5m, kết cấu theo dạng nhà băng 3 gian, 2 chái. Bao quanh nhà là 4 hàng rào chè tàu đ­ược cắt tỉa cẩn  thận, phía sau khuôn viên trồng các loại cây cảnh và cây ăn  trái. Ngoài Nhà Lưu niệm còn có Nhà trưng bày, Nhà tưởng niệm và một số công trình phụ trợ khác đã tạo thành Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn.

- Hang động Brai, Hướng Hóa :



Đây là một hang động hoang sơ rất rộng và cao, cửa hình tam giác nhiều người có thể đi qua. Động có nhiều khối thạch nhũ màu vàng, trắng với hình dáng khác nhau. Bên trong còn có những khoảng rộng với các bãi đá ngầm, có nước chảy như dòng suối nhỏ. Càng vào sâu bên trong có nhiều khối thạch nhũ lớn và đẹp hơn.
Hiện chỉ mới  khám phá bên trong hang động khoảng 500 m, theo phán đoán của cán bộ Khu bảo tồn bắc Hướng Hóa thì chắc chắn hang này còn rất sâu, vì có thể nằm trong hệ thống đá vôi nối liền với Quảng Bình. Hang Động này được Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa đặt tên là động Brai. dự kiến sẽ đưa vào tuyến du lịch sinh thái , đây là điểm du lịch mới làm sinh động Du Lịch Quảng Trị và rất hấp dẫn các tuyến du lịch sinh thái.


* Món ngon Quảng Trị:


Bún hến Mai Xá



Sự khác biệt của món bún hến Mai Xá với những thương hiệu bún khác chính là “chắt chắt”, một loài sinh vật nước lợ giàu chất đạm nên rất bổ dưỡng. Nhìn bề ngoài, chắt chắt nhỏ hơn hến và có màu đen sậm vì chúng thường sống dưới bùn cát để trốn kẻ thù và tìm kiếm thức ăn.
Thịt chắt chắt vị ngọt mặn, tính hàn, không độc, có tác dụng hoạt tràng, thông khí, mát gan, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu. Những ai từng ăn chắt chắt do chính người Mai Xá chế biến chắc chắn không quên hương vị ngọt ngào của món ăn dân dã, rẻ tiền này.

- Bánh Tu Huýt



Bánh Tu Huýt ở Quảng Trị thường được làm từ bột sắn, hoặc bột khoai nhưng để có những chiếc bánh ngon thì trộn lẫn cả 2 thứ bột này lại sẽ tạo nên một hương vị lạ hơn.

Để làm món bánh này được ngon phải lựa chọn từ những củ sắn – khoai lang ngon nhất, không bị sâu, cạo bỏ vỏ lụa bên ngoài, rửa sạch, xắt lát phơi khô bảo quản trong những bao nilon để tránh ẩm mốc, thường để dành đến mùa mưa đem ra sử dụng (loại khoai khô này ở Quảng Trị gọi là Khoai Rứa ở một số nơi khác gọi là Khoai Xéo). Khoai, Sắn lát khô được xay thành bột mịn, khi làm bánh bột sắn làm cho bánh ngon dẻo, Khoai có vị ngọt và thơm. Theo kinh nghiệm của những người ở quê thì đem hai thứ bột này trỗn lẫn với nhau thì bánh sẽ ngon hơn.

- Thịt trâu lá trơng



Nếu đã đến Quảng Trị bạn không nên bỏ qua món Thịt Trâu Lá Trơơng một món ăn độc đáo ở vùng đất nắng gió này.  Thịt Trâu  là món ăn ngon đầy bổ dưỡng và ở mỗi miền có những cách chế biến khác nhau thành những món ngon. Thịt Trâu vị ngọt, có tác dụng bổ khí huyết, mạnh gân cốt … Thịt Trâu có tác dụng chữa bệnh rất hữu ích có thể chữa được chứng phong thấp sưng tê; chứng đau lưng; phù chân. Về mặt sức khoẻ thịt Trâu tốt hơn thịt Bò.
Thịt Trâu Lá Trơng được chế biến từ loại thịt Trâu non được nhập từ Lào, Trâu non nên thịt thường mềm, ngọt, không dai và được chế biến theo các kiểu chính như: Nướng, Hấp, Xào.. mỗi món có một hương vị độc đáo riêng. Đặc biệt điều làm nên cái độc đáo và sự khác biệt chính là sự kết hợp giữa Thịt Trâu và Lá Trơng (Lá Trơng), một loại cây lá gai thường mọc hoang ở vùng rừng núi Quảng Trị,  Lá Trơng non có mùi thơm, cay rất đặc trưng. Khi ăn vị ngọt của thịt Trâu hòa quyện cùng  vị cay và mùi thơm của lá Trơng tạo nên một hương vị đặc trưng khó quên làm mê mẩn thực khách thưởng thức.

- Cháo bột Quảng Trị



Cháo cá vạt giường hay còn gọi là cháo cá, cháo bột. Là một món ăn đặc sản dân dã của  người dân Quảng Trị, Cháo Bột Quảng Trị có hương vị hấp dẫn đặc trưng riêng, khi ăn chắc chắn bạn sẽ muốn thêm tô thứ hai .
Đặc trưng của cháo bột là cá tràu (có nơi gọi là cá quả, cá lóc, cá chuối, một số vùng ở Quảng Trị còn gọi là cá đô, cá tràu v.v…). Cá tràu phải chọn loại thật tươi, còn sống, đem làm sạch. Điều đặc biệt ở đây làm cá không được vứt bỏ ruột. (Một tô cháo bột sẽ mất ngon khi không có “bột lòng” cá! Có vị khách sành ăn còn muốn tô cháo của mình chỉ có toàn ruột cá tràu). Cá tràu làm xong để nguyên con luộc vừa chín tới, tách thịt ra ướp kỹ cùng với các gia vị khác như muối, tiêu, ớt.
Muốn ngon phải ăn thật nóng, bưng tô cháo bột đang nghi ngút khói, cảm nhận được mùi vị thơm ngon. Những người bán cháo ở đây không mua bột bán sẵn ngoài chợ mà mua gạo về rồi tự xay, lọc, lắng thành bột khô. Vì thế cánh bột rất mềm và tươi ngon, thơm mùi gạo lại không bị chua, bán bao nhiêu làm bấy nhiêu chứ không để dư thừa.

Tham khảo thêm http://vietnamtourism.gov.vn/



Thứ Năm, ngày 12 tháng 5 năm 2016

Du lịch Thanh Hoá


* Địa điểm du lịch

-  Vườn quốc gia Bến En



 Thuộc địa phận huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hoá 36km về phía tây nam.
Đặc điểm: Tổng diện tích rừng tự nhiên là 16.634 ha, trong đó diện tích rừng nguyên sinh là 8.544 ha với một quần thể nhiều núi non, sông suối, vùng hồ trên núi với nhiều tên gọi và huyền tích về các địa danh.
Vườn quốc gia Bến En có nhiều sinh vật quí. Tại đây có tới 462 loài cây thuộc 125 họ thực vật, gồm những giống loài quí như lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương... Có các loại thú quí hiếm như sói đỏ, gấu ngựa, vượn đen, phượng hoàng đất, gà tiền mặt vàng...
Phong cảnh của vườn quốc gia Bến En đầy thơ mộng. Hồ sông Mực rộng 3.000 ha với hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ. Nhiều hang động nhũ đá lung linh huyền ảo.
Đến với vườn quốc gia Bến En, du khách có dịp tìm hiểu, nghiên cứu về các loài động thực vật quí hiếm ở đây, sống giữa rừng đại ngàn nghe chim kêu vượn hú thâu đêm, nướng cá bên khe suối... thật thú vị. Trong tương lai Bến En sẽ trở thành một khu du lịch rất hấp dẫn.

-Đền Bà Triệu

Đền thờ bà Triệu được dựng trên núi Gai (còn gọi là núi Ải) sát đường quốc lộ 1A, thuộc làng Phú Điền, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 137km.
Đặc điểm: Hiện nay lăng tháp vẫn còn, tuy đơn sơ, giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trên đường thiên lý ra Bắc vào Nam, khách bộ hành thường dừng chân, lên núi Gai, tưởng niệm vị nữ tướng anh hùng, viếng lăng và thưởng ngoạn cảnh đẹp.
Tên thật của bà là Triệu Thị Trinh, nhưng nhân dân quen gọi là Bà Triệu với lòng kính cẩn, nhớ công ơn bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Ngô thế kỷ thứ 3.
Qua cổng là hồ sen, bốn bề kè đá. Tiếp theo là nhà Tiền đường gồm 5 gian, cột đá mài vuông cạnh. Sau nhà Tiền đường là một khoảng sân nhỏ, hai bên tả hữu là nhà tiếp khách và sửa lễ. Cuối sân là 3 gian hậu cung, dựng trên mặt bằng cao hơn, dựa vào vách núi. Đối diện với đền trên là núi Gai, ở phía bên kia quốc lộ 1A là núi Tùng - nơi có lăng Bà Triệu.

-Di tích Thành nhà Hồ




Thành Nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 150km.
Đặc điểm: Thành do Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397 bằng những khối đá xanh rất lớn và kiên cố.Thành nhà Hồ hay còn được gọi là thành Tây Ðô.
Thành được xây dựng vào năm 1397 thời nhà Hồ. Thành có hình vuông, mỗi cạnh dài gần 500m, được xây bằng đá xanh cao khoảng 4,2m. Thành có 4 cửa. Cửa phía Nam rất giống cửa phía Nam thành Thăng Long. Quanh thành có hào sâu, phía trong thành là cung điện uy nghi lộng lẫy. Từ cửa Nam xây đường lát đá thẳng đến đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn.
Sau khi xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời triều từ Thăng Long về Tây Ðô. Nhưng nhà Hồ đã tồn tại được 7 năm (1400-1406).
Trải qua hơn 6 thế kỷ cho đến nay toà thành còn lại cửa phía Nam với 3 cổng vòm cuốn bằng đá xanh. Khung tường thành còn lại là những bức tường bằng đất.

Tìm viec lam Thanh Hoa , nơi có hàng nghìn công việc đang chờ bạn


- Bãi biển Sầm Sơn 

Bãi biển Sầm Sơn là nơi tắm biển rất tốt mà người Pháp đã biết khai thác từ năm 1906 và Sầm Sơn nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng của Ðông Dương. Từ những thập kỷ trước, đã có nhiều biệt thự nghỉ mát mọc lên ở đây. Vua Bảo Ðại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở Sầm Sơn. Sầm Sơn có nhiều cảnh đẹp: hòn Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên...
Bờ biển Sầm Sơn dài 10km bằng phẳng và nhiều hải sản quý như tôm he, cá thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vùng biển bao la với những thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách. Bãi biển Sầm Sơn là một trong những bãi biển rộng và đẹp ở phía bắc.


* Ẩm thực xứ Thanh

- Gỏi cá nhệch




Gỏi cá nhệch là món ngon nức tiếng ở vùng quê Nga Sơn (Thanh Hóa). Món ăn khiến người ta nhớ đến cả một vùng xứ sở bởi gỏi nhệch ở đây mang nét vị riêng có. Nếu những nơi khác ăn gỏi kèm mắm tôm, nước mắm thì điểm nhấn cho gỏi cá Nga Sơn chính là chẻo nhệch. Chẻo ăn cùng gỏi cá là bí quyết làm nên sự khác biệt, được chế biến từ xương cá giã nhuyễn chưng cùng mẻ chua và các loại gia vị đặc trưng khác. Chẻo bày ra bát nhỏ, có màu đỏ sậm, đặc sánh, đậm đà, váng mỡ và thơm nức mũi.

-Nem chuaThanh Hoá


Là đặc sản nổi tiếng gợi nhớ tới vùng quê đầu miền Trung nắng gió. Quả nem chỉ to bằng chiếc chén pha trà, gói bằng lá chuối tươi, lạt giang trắng buộc quanh chữ thập 6 mặt trông nho nhỏ, khéo khéo, trăm quả như một mà làm say lòng du khách:
Kiếm việc làm có môi trường thân thiện, thu nhập cao tại TP-Thanh Hoá
“Bạn đến chơi nhà ta với ta

Có chai rượu đậu bóc nem ra …”

Được làm từ thịt sống, bì lợn cùng các gia vị như tiêu, tỏi, ớt cho lên men đến chín, khi ăn có vị chua dịu đậm đà, từ chiếc nem chua cổ truyền, người dân Thanh Hóa sáng tạo ra rất nhiều loại và cách chế biến, thưởng thức khác nhau.

-Bưởi tiến vua




Là loại quả tiến vua, bưởi Luận Văn khác các loại bưởi khác ở chỗ có mùi thơm rất đặc trưng. Dịp Tết đến, chỉ cần bày lên mâm quả là bưởi có thể thơm lừng khắp không gian nhà.
Bưởi Luận Văn lúc chín sẽ có màu đỏ, từ múi đến vỏ vô cùng đẹp mắt. Tầm tháng 11, 12 chính là thời điểm bưởi sẽ chuyển sang thứ màu đỏ hấp dẫn này. Bưởi không những có mùi thơm đặc trưng mà còn mang vị chua ngọt rất dễ chịu.

Một quả bưởi đạt tiêu chuẩn tiến vua xưa kia phải đạt khoảng 1.5kg trở lên, thân tròn trịa, rốn bưởi phải ở chính giữa. Theo người dân trồng bưởi lâu năm ở làng Luận Văn thì trong 1000 quả có khi chỉ chọn được 100 quả đạt tiêu chuẩn như vậy.

- Chả tôm 




Được làm từ bánh phở cuốn, nhân là tôm bóc vỏ giã nhuyễn, thịt ba chỉ rán vàng băm cùng hành khô, xào với chút hạt tiêu. Chả được kẹp vào nẹp tre tươi nướng trên lửa than hoa, ăn cùng rau sống. Nước chấm làm từ mắm pha loãng cùng đu đủ xanh thái mỏng, sung thái lát, ớt tươi, tỏi, dấm, đường… Những phố bán chả tôm nổi tiếng là Nhà Thờ, Lê Thị Hoa, Đào Duy Từ (từ 3h chiều), với giá khoảng 30.000 đồng một đĩa.

Nguồn tham khảo thêm: svhttdl.thanhhoa.gov.vn



Thứ Ba, ngày 15 tháng 3 năm 2016

Du lịch Hà Tĩnh

*Địa điểm du lịch Hà Tĩnh :


 Chùa Hương Tích




Chùa Hương Tích nằm ở dãy núi Hồng Lĩnh, thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Chùa được xây dựng vào đời Trần, là một trong hai ngôi chùa Hương nổi tiếng ở Việt Nam. Hồng Lĩnh là thắng cảnh nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Từ xưa, dãy núi 99 ngọn vút cao này đã được xếp vào 1 trong 21 danh thắng của nước Nam. Ðặc biệt sự hiện hữu của chùa Hương Tích với nhiều kỳ quan liên kết đã xứng danh là "Hoan Châu đệ nhất danh lam"

Bạn cần tìm viec lam Can Tho với mức lương cao, hãy đến với website tìm việc online hàng đầu Việt Nam

Chùa Hương Tích ở Hà Tây thật ra chỉ là một "phiên bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Theo cuốn Hương Sơn thiên trù thiền phả, một vị hoà thượng được lệnh của chúa Trịnh (sau khi đi tuần thú) xác định địa điểm và cho xây dựng chùa Hương Tích ở Hà Tây từ đời Lê Huy Tông dưới niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1704).

Trong khi theo sách Hương Sơn báu quyển, chùa Hương ở Hà Tĩnh là một động cao và khuất, thường có mây mù bao phủ. Chùa này được chính thức xây dựng từ đời Trần (có thể đồng thời với chùa Yên Tử). Khi Trần Nhân Tông lên tu ở chùa Hoa Yên (Yên Tử), trại trạng nguyên Bạch Liêu, quê huyện Yên Thành (phủ Diễn Châu), cũng dời nhà vào chân núi Hồng Lĩnh cho tiện việc thắp hương ở chùa Hương Tích.

Vậy vì sao lại có thêm một chùa Hương "phiên bản" ở phía Bắc? Câu trả lời là vào thời Lê - Trịnh, các vua Lê - chúa Trịnh phần lớn có quê ở xứ Thanh (xem Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái) nên các phi tần, mỹ nữ đa số được tuyển chọn ở miền Hoan Châu. Hàng năm các cung phi, cung nữ Thanh - Nghệ thường chảy hội chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh vào ngày 18/02 âm lịch bằng đường thuỷ qua cửa Hội Thống (gần Cửa Lò bây giờ).

Mỗi lần những "người đẹp" đi xa như vậy khiến chúa Trịnh rất phân vân (tuy đã bố trí lính vệ phục vụ dọc đường), do đó chúa Trịnh mới gọi một vị hoà thượng xác định địa điểm ở miền rừng núi Hà Tây để xây chùa Hương Tích thứ hai mà thờ vọng để các "người đẹp" đi trẩy hội gần hơn (theo dẫn giải của ông Bùi Văn Nguyên, nguyên tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam). Như vậy nhờ "sáng kiến" của chúa Trịnh mà nước ta có hai chùa Hương Tích.


 Ngã ba Đồng Lộc




Ngã ba Đồng Lộc nằm ở giao điểm của tỉnh lộ số 2 và quốc lộ 15, thuộc địa phận huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã phải hứng chịu hàng ngàn trận bom của máy bay Mỹ và sự hy sinh cao cả của tiểu đội 10 cô gái thanh niên xung phong.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ngã ba Ðồng Lộc là cửa ngõ giao thông từ miền Bắc và đường mòn Hồ Chí Minh. Máy bay Mỹ đã tập trung khối lượng bom đạn rất lớn đánh phá ngã ba này và đoạn đường xung quanh. Trên một đoạn đường chưa đầy 20km đã phải hứng chịu 2.057 trận bom.

Tiểu đội nữ thanh niên xung phong do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng có 15 cô tuổi từ 17 đến 24, được giao nhiệm vụ sửa đường cho xe qua. Ngày 24/7/1968 sau nhiều trận bom cày nát đoạn đường, các cô vẫn không rời vị trí. Vừa dứt tiếng bom, các cô lại lao ra dùng cuốc, xẻng san lấp hố bom, vá đường, thông xe. Ðến 16h30', trận bom thứ 15 trong ngày lại dội xuống Ðồng Lộc, một quả rơi sát miệng hầm nơi 10 cô gái đang tránh bom. Tất cả 10 cô đã hy sinh, trong tay chỉ có cuốc, xẻng. Chưa ai trong họ có gia đình riêng.

Ngã ba Ðồng Lộc ngày nay là nơi yên nghỉ của 10 cô gái trên đồi, cạnh hố bom năm xưa xanh mướt màu xanh cây lá, vi vút tiếng thông reo. Tại đây có đài liệt sỹ lưu danh 10 cô gái anh hùng.



Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du




Toàn bộ khu di tích Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền nằm rải rác trên vùng đất rộng chừng 20 ha từ bờ nam Sông Lam đến xứ Đồng Cùng, bao gồm đền thờ Nguyễn Huệ Đại Vương, cầu Tiên, khu lưu niệm, đền thờ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng, từ đây đi về khoảng 1 km sẽ đến mộ Nguyễn Du.

Cầu Tiên không rõ được xây dựng vào năm nào, theo “Nghi Xuân huyện chí” thì Xuân Nhạc Công Nguyễn Nghiễm cùng Tri phủ Đặng Sỹ Vinh và Đặng Hiến Phó trùng tu lại có dựng bia đá vào năm Canh Thân (1740). Theo chữ ghi trên bia Cầu Tiên cho biết đây là nơi nhiều nguồn nước từ Hồng Lĩnh cùng các nơi khác trong huyện hội tụ về. Hiện nay bia đặt ở nhà Tư văn 2 trong Khu lưu niệm.

Khu lưu niệm Nguyễn Du rộng khoảng 2 ha, từ cổng chính đi vào qua bệ đá khắc hai chữ "Hạ Mã", lần lượt đến nhà khách, nhà tư văn, bia tưởng niệm Nguyễn Quỳnh, nhà thờ Nguyễn Du, nhà trưng bày bảo tàng Nguyễn Du.

Nhà Tư văn 2, Tư văn 1 làm bằng gỗ lim lợp ngói vảy, xung quanh có tường cao. Hai nhà này là nhà văn thánh của huyện Nghi Xuân do Nguyễn Nghiễm đưa về năm 1790 bị cháy, người trong họ Nguyễn và quan viên trong huyện dựng lại.
Nhà thờ Nguyễn Du được xây dựng vào năm 1825 trên mảnh vườn nhà tại làng Tiên Điền. Trong nhà có bàn thờ bằng vôi cát, một bàn nhỏ để góc bút nghiên, trên bàn thờ có một bức hoành đề chữ “ Hồng Sơn thế phả” do Hoàng Phù phái tước Trung hiến Đại phu tặng vào năm thứ 55 triều Càn Long đời nhà Thanh, phía ngoài nhà thờ treo bức đề chữ “ Địa linh nhân kiệt”.

Từ cổng chính đi vào bên phải nhà thờ Nguyễn Du là nhà trưng bày bảo tàng. nội thất nhà trưng bày ngoài một số tài liệu tranh ảnh minh hoạ tác phẩm của Nguyễn Du thì có một số hiện vật quý như: nghiên mực, đĩa mai hạc Nguyễn Du được tặng trong thời gian đi sứ, nậm và chén uống rượu, gạc nai treo áo, la bàn dùng đi săn, bức phù điêu bằng gỗ ghi lại hình ảnh rước Tiến sĩ, hoàn sắc của Nguyễn Nghiễm.

Từ khu lưu niệm về phía đông vài trăm mét là đến đền thờ Nguyễn Nghiễm còn gọi là đền Đức Đại Vương. Trước cổng là hai voi đá và ngựa đá, thượng điện nay chỉ còn bàn thờ bằng đá thanh, bát hương bằng đá, mái lợp ngói xi măng. Hạ điện làm bằng gỗ li, lợp ngói mũi hài.

Ngoài khu lưu niệm là phần mộ đại thi hào Nguyễn Du, mộ được xây bằng gạch bao gồm 3 phần: bàn thờ, phần mộ và vườn cây. Bàn thờ có bia tường hình cuốn thư, lư hương. Bia bằng đá Thanh đề dòng chữ “Danh nhân văn hoá thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du”. Quanh bia khắc hình hoa văn thế kỷ XVIII theo luật đường triện.


 Hồ Kẻ Gỗ




Hồ Kẻ Gỗ thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Vinh 70km về phía nam. Hồ là một cảnh đẹp nhân tạo nằm giữa các sườn đồi.

Công trình hồ Kẻ Gỗ được khởi công xây dựng năm 1976 và hoàn thành vào năm 1980. Hồ dài gần 30km, gồm 1 đập chính và 10 đập phụ với sức chứa 300 triệu m3 nước. Ngày nay, hồ Kẻ Gỗ còn là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Đến thăm hồ Kẻ Gỗ, du khách có thể tắm mát, câu cá, leo núi hay săn bắn trên các triền núi ven hồ. Hồ Kẻ Gỗ còn là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào cho các vùng lân cận. Cá tôm dưới đáy hồ rất to và thơm thịt. Con lớn nặng tới vài chục kg.


 Biển Thiên Cầm




Biển Thiên Cầm thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh hơn 20km. Tục truyền xưa, vua Hùng trên đường xuống phương nam, đến đây nghe tiếng sóng vỗ vào hang núi vọng ra âm thanh như tiếng đàn bay lơ lửng trong không gian nên nhà vua đặt tên núi là Thiên Cầm (đàn trời).

Biển Thiên Cầm là một vùng thiên nhiên hoang sơ. Nơi đây chỉ có tiếng sóng dội vào hang núi khiến những chuông đá, khánh đá vọng vang trở thành khúc nhạc muôn điệu như những tiếng đàn trời có tự ngàn xưa.

Bãi biển Thiên Cầm như hình cánh cung trải dài gần 3km bắt đầu từ núi Thiên Cầm đến núi Đầu Voi, cùng với Cùm Nậy (núi lớn) và Cùm Con (núi bé) tạo nên những phím đàn trời án ngự dòng suối Kỳ La, để dòng suối trong vắt này uốn lượn rồi đổ ra biển.

Bờ cát trắng chạy dài thoai thoải hàng trăm mét ra biển, nước biển trong vắt và âm vang đàn trời đã làm nên sự hấp dẫn của vùng biển này.

*Ẩm thực Hà Tĩnh :

Kẹo Cu Đơ




Nói đến Hà Tĩnh là nói đến kẹo cu đơ, loại kẹo đã trở thành đặc sản của mảnh đất “gió Lào chát mặn” này. Kẹo cu đơ được chế biến từ lạc, mật mía, gừng... những nguyên liệu dân dã mang đậm hương vị quê. Nổi tiếng nhất ở Hà Tĩnh là thương hiệu Cu đơ ông bà Thư Viện, Cu đơ Cầu Phủ, Cu đơ Hương Sơn.
Người ta ăn kẹo cu đơ thường uống kèm với nước chè xanh để vị ngọt của kẹo hòa quyện vào vị chát của chè xanh, tạo nên cảm giác ngọt ngọt, bùi bùi khó tả đúng như câu thơ quen thuộc: “Chè xanh thêm chút gừng cay/ Cu đơ Hà Tĩnh làm say lòng người”.


Mực nhảy Vũng Áng




Vùng biển Vũng Áng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh là khu kinh tế cảng biển sầm uất, sôi động, non nước hữu tình nổi tiếng với món hải sản có tên là mực nhảy. Vì mực ở đây khá to con, được chế biến ngay sau khi đánh bắt, vẫn giữ nguyên được độ tươi nên người dân địa phương đặt tên là mực nhảy.
5 đặc sản ẩm thực ngon tuyệt cú mèo của tỉnh Hà Tĩnh
Mực nhảy có thể được chế biến thành nhiều món ăn khác như luộc, xào, hấp hay gỏi. Mực nhảy có vị tươi, ngon, thơm rất đặc trưng, khác hoàn toàn so với các loại mực ở vùng biển khác trên cả nước.

Nguồn tham khảo thêm: sovhttdl.hatinh.gov.vn

Thứ Ba, ngày 02 tháng 2 năm 2016

Du lịch Hà Giang

Hà Giang nằm ở biên giới ở cực bắc của Tổ quốc. Hà Giang có nhiều cảnh đẹp, núi đá vôi và suối nước nóng độc đáo như Cao nguyên đá Đồng Văn, Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, hồ Noong,…


* Điểm đến Hà Giang

-Công viên Địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn





Cao nguyên đá Đồng Văn là Công viên Địa chất toàn cầu duy nhất tại Việt Nam và thứ hai của Đông Nam Á được UNESCO công nhận từ năm 2010. Nằm ở độ cao trung bình 1000 – 1600 mét so với mực nước biển, cao nguyên đá Đồng Văn có diện tích gần 2356 km2 trải dài qua 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Để đến với cao nguyên, du khách phải trải qua những cung đường đèo khúc khuỷu, càng lên cao sương mù núi càng dày, du khách sẽ ngỡ ngàng hòa mình vào khung cảnh trữ tình của rừng núi. Vượt qua chặng đường đèo khó khăn, trước mắt du khách hiện ra khung cảnh hùng vĩ hoang sơ của những dãy núi đá tai mèo sừng sững thuộc cao nguyên đá, nơi hội tụ những cảnh quan đa dạng có giá trị khoa học phong phú.


Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn là nơi chứa đựng phong phú các loại hình di sản địa chất, di sản văn hóa và đa dạng sinh học. Theo đánh giá của các nhà khoa học, nơi đây có cảnh quan địa chất và kiến tạo địa chất điển hình cho sự hình thành của lớp vỏ trái đất ngày nay. Các nhà khoa học đã tìm thấy ở đây những hóa thạch cổ sinh của các loài sinh vật như tay cuộn, bọ ba thùy và nhiều loại hóa thạch cổ sinh khác có niên đại cách ngày nay khoảng 541 – 400 triệu năm. Qua khảo sát thực địa đã phát hiện có khoảng 40 điểm di sản hoặc điểm có giá trị về mặt tài nguyên, có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, trong đó gồm 7 di sản về tiến hóa trái đất, 7 di sản về vườn đá, 6 di sản về vách đá dốc đứng có độ cao từ 200 – 600 mét.


-Đường Hạnh Phúc, Hà Giang – Con đường của máu và hoa

Quốc lộ 4C với chiều dài 185km xuyên cao nguyên đá Đồng Văn mang tên là đường Hạnh Phúc vốn là con đường được khởi đầu và thành hình từ công sức và cả máu xương của hàng vạn thanh niên xung phong từ những năm 50 – 60 thế kỷ trước…

Với dân phượt nói riêng và những ai yêu thích khám phá vùng cao nói chung thì đường Hạnh Phúc là một hành trình đặc biệt. Hầu hết du khách muốn chinh phục cung đường này để thấy được cảnh sắc hùng vĩ cùng cuộc sống tươi đẹp phải vượt qua những con đèo cao vút như đèo Bắc Sum, đèo Cổng Trời, đèo Cán Tỷ, đèo Mậu Duệ, ngược lên Lũng Cú vời vợi mây trời. Và đặc biệt là vượt qua bức tường thành Mã Pì Lèng danh tiếng.

Đường Hạnh phúc – Con đường của gian khổ, hy sinh, của cả hoa và máu; là huyền thoại về sức trẻ của thanh niên 16 dân tộc thuộc các tỉnh Cao-Bắc-Lạng-Hà-Tuyên-Thái và Nam Định, Hải Dương trong suốt 8 năm lao động thủ công quên mình với trên 2 triệu ngày công. Riêng ở dốc Mã Pí Lèng – nóc nhà của vùng cao nguyên đá, công nhân đã treo mình 11 tháng để mở đường.

 Bạn hãy click vào web tuyển dụng nhân sự cao cấp của chúng tôi.

Được Đảng và Nhà nước ta quyết định mở tuyến đường nối tỉnh lỵ Hà Giang với các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc từ năm 1959 và lấy tên là đường Hạnh Phúc dài gần 200km; chạy xuyên qua cao nguyên đá Đồng Văn, qua đỉnh Mã Pì Lèng. Tuyến đường Hạnh Phúc đi qua đèo Mã Pì Lèng cũng là đoạn đường nhiều khúc cua và khó đi nhất. Việc phá đá mở đường qua đoạn này cũng mất nhiều công sức, xương máu hơn cả, riêng đoạn Đồng Văn – Mèo Vạc dài 24km đường núi đá đã phải mất gần 2 năm (9/1963 – 3/1965) mới hoàn thành, trong đó để qua được “Vạn Lý trường thành bằng đá” này hơn 1000 thanh niên xung phong của bà con 16 dân tộc anh em thuộc các tỉnh Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà, Nam Định, Hải Dương phải treo mình 11 tháng trên vách đá để đục lỗ nổ mìn mở đường. Đây có thể coi là kỳ tích về tinh thần và sức mạnh khuất phục thiên nhiên của con người Việt Nam.

-Phố cổ Đồng Văn


Buổi sớm, bức tranh phố cổ là sự pha trộn đến tài tình hai tông màu – màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ. Phố cổ Đồng Văn nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc. Điểm đến cổ kính, trầm mặc những mang đậm sâu những nét văn hóa đặc sắc của miền đá Hà Giang, mà bất kỳ du khách đến đây đều không thể bỏ qua.

Thị trấn Đồng Văn (Hà Giang) nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc. Khu phố cổ vẻn vẹn 40 nóc nhà nằm xếp vào nhau dưới núi đá. Buổi sớm, bức tranh phố cổ là sự pha trộn đến tài tình hai tông màu – màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ.

Dãy phố dài gần 1km được hình thành cách đây gần một thế kỷ, với những nét kiến trúc đặc trưng của đồng bào vùng cao với nhà trình tường, mái ngói âm dương, nền lát đá… Phố cổ Đồng Văn cho đến nay vẫn còn hơn 40 ngôi nhà từ 100 đến gần 200 tuổi.

Từ năm 2006, huyện Đồng Văn đã chọn các đêm 14, 15, 16 âm lịch để làm “Đêm hội Phố Cổ”. Theo đó các hộ dân trong khu phố cổ đồng loạt treo đèn lồng đỏ, một số hoạt động như trưng bày thổ cẩm các dân tộc, trình diễn và bán các món ăn truyền thống của các dân tộc để tạo nét văn hóa độc đáo thu hút khách du lịch.

- Cột cờ Lũng Cú – nơi địa đầu Tổ quốc


Tổ quốc ta cong hình chữ S có bốn điểm cực đông, bắc, tây, nam, trong đó cực bắc thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Đến với Hà Giang, du khách không nên bỏ qua địa danh cột cờ Lũng Cú, nơi địa đầu Tổ quốc từ lâu đã trở thành hình ảnh thiêng liêng trong lòng mỗi người con đất Việt.

Cột cờ Lũng Cú là một cột cờ quốc gia nằm trên đỉnh Lũng Cú hay còn gọi là núi Rồng (Long Sơn), có tọa độ 23°21’49’’ vĩ bắc, 105°18’58’’ kinh đông, nơi điểm cực bắc Việt Nam (Thực tế theo số liệu địa lý đo đạc được, điểm cực bắc còn nằm cách khoảng 2km nữa, nhưng trước nay cột cờ Lũng Cú vẫn luôn tồn tại trong tâm thức người Việt như một biểu tượng thiêng liêng về chủ quyền quốc gia). Từ bãi đỗ xe giữa lưng chừng núi, du khách chinh phục 286 bậc đá lên độ cao 1700m, đặt chân lên đỉnh Lũng Cú, đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng phần phật tung bay.


“Lũng” trong tiếng H’mông là ngô, Lũng Cú là thung lũng ngô, sở dĩ có tên như vậy vì nơi đây có những cánh đồng lớn đều trồng ngô. Đây là cách giải thích đơn giản nhất, giản dị mộc mạc như tâm hồn của những người dân nơi đây. Nhưng có một cách giải thích khác mang màu sắc huyền thoại về ngọn núi Lũng Cú, hay còn gọi là núi Rồng, núi Long Cư, tức nơi rồng thiêng từng cư ngụ. Từ trên đỉnh Lũng Cú nhìn về phía tây có hai hồ nước, mặc dù ở độ cao chót vót này nhưng nguồn nước luôn trong xanh không bao giờ cạn, được người dân coi là “long nhãn” (mắt rồng). Tương truyền xưa kia, cư dân vùng này luôn thiếu nước sinh hoạt, điều đó đã làm cho rồng thiêng động lòng trắc ẩn nên trước khi bay về trời đã để lại đôi mắt cho dân làng, tạo thành hai hồ nước ngày nay.

Một cách giải thích khác, Lũng Cú đọc chệch tiếng Hán sang tiếng H’mông từ “Long Cổ”, tức trống của nhà vua. Lịch sử chép rằng sau khi đại phá quân Minh, vua Lê Lợi đã cho treo cái trống thật to ở trên núi (có sách còn chép ngay từ thời Lý, thái úy Lý Thường Kiệt đã cho dựng trống ở nơi đây), dùng tiếng trống ấy truyền tin về sự an nguy của vùng biên ải. Mỗi khi có nguy, tiếng trống lại dồn dập vang xa hàng mấy dặm, thức tỉnh lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền từng tấc đất tấc sông. Tiếng trống của cha ông khi xưa cũng như lá cờ đỏ sao vàng ngày nay là một biểu tượng thiêng liêng về chủ quyền đất nước.

Cột cờ Lũng Cú được xây dựng như ngày nay cũng trải qua nhiều mốc quan trọng. Những câu chuyện về lịch sử cột cờ cũng nhuốm màu sắc huyền sử thiêng liêng. Theo như truyền lại, cột cờ bắt đầu được xây dựng từ thời Lý, làm từ cây sa mộc cao trên 10 mét. Đến thời Pháp thuộc năm 1887, cột cờ được xây lại, rồi trải qua nhiều lần trùng tu với độ cao và kích thước khác nhau. Năm 1978, đồng chí phó chủ tịch UBND huyện Đồng Văn thấy lá cờ cắm lúc trước chưa đủ rộng để mọi người dân ở chân núi có thể nhìn thấy, đã nảy ra ý định xây cột cờ cao hơn, may lá cờ rộng hơn. Đến ngày 12/8/1978, lá cờ đỏ sao vàng rộng 54 mét vuông (chiều dài 9m, chiều rộng 6m) tượng trưng cho 54 dân tộc anh em trên khắp mọi miền tổ quốc đã chính thức tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú. Từ năm 2002 đến những năm về sau, cột cờ được trùng tu nhiều lần, ngày càng mở rộng về quy mô, kích thước. Theo thiết kế mới, cột cờ ngày nay chính thức được xây dựng với tổng chiều cao 33.15 mét, trong đó chân cột cao 20.25 mét, cán cờ cao 12.9 mét, đường kính ngoài chân cột rộng 3.8 mét. Cột cờ được thiết kế hình bát giác giống cột cờ Hà Nội, 8 mặt chân cột mô phỏng hoa văn trống đồng Đông Sơn và minh họa những thời kì lịch sử khác nhau của đất nước.

- Dinh thự Vua Mèo


Dinh thự độc đáo này được xây dựng trên vị trí quả đồi có hình mai rùa. Đây là “đại bản doanh”, dinh cơ đồ sộ vừa là nơi ở vừa là nơi làm việc của gia tộc họ Vương. Nhà Vương thuộc xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. “Dinh thự thuốc phiện” độc đáo nhất Việt Nam.

Nhà Vương tọa lạc trên khu đất có 700 cây sa mộc trăm tuổi bao quanh. Ngôi nhà của Vua Mèo được xây vào năm 1914, do một kíp thợ khoảng 200 người từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) sang làm, với chi phí quyết toán tới 15 vạn đồng bạc trắng. Phía trước dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn với những hàng cây sa mộc

Nhà Vương làm toàn bằng gỗ thông, ngói ống, đá xanh. Nhà chia 3 lớp: tiền sinh, trung sinh, hậu sinh. Giữa bốn dãy nhà gỗ hai tầng khép kín là một sân rộng.

Toàn bộ khu nhà được kết cấu gồm 64 gian phòng khác nhau gồm nhà khách, phòng làm việc, phòng ngủ cho các thành viên trong dòng họ, phòng ở của các gia nhân giúp việc và quân lính, nhà kho lương thực, kho vũ khí, đặc biệt có một kho riêng để chứa thuốc phiện.

Điều đặc biệt nhất trong ngôi nhà Vương là những kiến trúc và hoa văn hình loài hoa anh túc. Vì thế, có người còn gọi đây là “dinh thự thuốc phiện”.

Trong khu dinh thự họ Vương, tất cả các phiến đá kê cột nhà đều được tiện, gọt thành hình quả thuốc phiện. Sau khi mài nhẵn, chúng đều được dùng những đồng bạc trắng đánh cho bóng loáng, biến màu đá trắng thành màu đồng thau, gần như màu quả thuốc phiện đã phơi khô. Họa tiết trang trí trên đầu đao kèo nhà cũng được tiện hình quả thuốc phiện.

Đặc biệt là căn hầm được làm bằng những phiến đá xanh dày trên 60cm, được thiết kế để chứa thuốc phiện. Căn hầm được thiết kế nằm phía trái ngôi nhà, đối xứng với căn hầm chứa vàng bạc phía phải ngôi nhà.

Xa hoa nhất trong khu nhà Vương là chiếc bể tắm được đục đẽo công phu hình bán nguyệt từ nguyên một khối đá khổng lồ mà tương tuyền vốn là bể tắm sữa dê cho bà vợ thứ nhất của vua Mèo.


- Mùa hoa tam giác mạch


Những nương tam giác mạnh đẹp như tranh vẽ trải dài trên vùng cao nguyên đá Đồng Văn - tỉnh Hà Giang. Hoa hồng trắng li ti, cánh chụm lại thành hình chóp nón, có ba mặt tam giác, giữ ở giữa một hạt mạch quý. Những tay lá bé bỏng cũng mơ hồ ba góc xanh xanh.

Người dân bản địa thường lấy bột của quả tam giác mạch để làm bánh hoặc dùng hạt trộn với hạt ngô để nấu rượu tạo nên hương vị khá đặc biệt. Có nơi dùng để chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, do năng suất thấp hơn ngô và lúa nên diện tích không được mở rộng nhiều.

* Ẩm thực Hà Giang 


- Bánh tam giác mạch





Bánh tam giác mạch, chỉ riêng cái tên đã gợi bao xuyến xao, háo hức. Ngắm Sủng Là, Lũng Cú rạng rỡ trong mùa hoa, càng muốn được “nếm” thử cả một mùa tím hồng mê mải ấy. Bánh tam giác mạch được làm từ hạt, thứ mà ít người cất công lên tới Hà Giang để ý bởi mải say trong những cánh hoa muôn hồng nghìn tía.

banh tam giac mach pystravel006 Lạ miệng với bánh tam giác mạch Hà Giang
Thích thú với tấm bánh tam giác mạch xoe tròn tím một màu ngan ngát – Ảnh: sưu tầm.

Cuối mùa, người dân thu hoạch tam giác mạch, hạt của chúng được phơi khô, một phần dùng ủ tạo thành loại men hồng mi nổi tiếng, một phần có thể xay bột làm thành món bánh tôi đã bắt gặp ở chợ phiên.

Bánh tam giác mạch bây giờ hầu như chẳng mấy ai làm nữa. Tôi đi suốt chợ cũng chỉ bắt gặp duy nhất một hàng bày bán món bánh mơ mộng này. Một phần vì làm nó chẳng dễ, một phần vì giá bán chẳng đáng là bao so với công làm.

Hạt tam giác mạch bé xíu còn chưa bằng nửa hạt đậu đen, xay nhỏ thành thứ bột thật mịn. Bột nhào với nước thành hỗn hợp dẻo mềm rồi cho vào khuôn đúc thành từng tấm bánh tròn xoe. Tưởng dễ, nhưng hóa ra công đoạn xay bột lại rất vất vả.

Bột xay bằng tay, nếu không khéo bánh rất dễ bị lợn cợn, khó ăn. Hạt tam giác mạch phơi khô đến chừng nào cũng là bí quyết. Tấm bánh tôi đang ăn trong phiên chợ này được làm từ hạt tam giác mạch phơi khô độ một tuần dưới ánh nắng vàng óng ả của cao nguyên đá.

Bánh được hấp chín trên bếp lửa, khi đến tay người mua vẫn còn nguyên hơi ấm. Chỉ mười ngàn đồng một tấm bánh to chừng hai bàn tay người lớn. Người Mông đi chợ phiên thường mua bánh tam giác mạch để ăn cùng thắng cố, như cách họ ăn bánh ngô, bánh gạo hay xôi bảy màu.


-Cháo ẩu tấu



Lên Hà Giang những ngày gió lạnh hãy dùng chân bên những cửa hàng cháo ven đường, người chủ quán nhiệt tình và tốt bụng sẽ cho bạn thưởng thức tô cháo ấu tẩu ấm nóng, nó sẽ giúp bạn xua tan ngay cái giá lạnh trên cao nguyên đá…

Cháo ấu tẩu ở Hà Giang được làm từ nguyên liệu là củ ấu tẩu (còn có tên gọi ô đầu, phụ tử), một loại củ có chất độc cực mạnh thường mọc trên đá vùng đồi núi phía bắc. Bề ngoài giống củ ấu miền xuôi, nhưng bên trong lại khác hẳn bởi củ ấu tẩu rất cứng và độc. Chất độc của củ ấu tẩu có thể gây tử vong, song lại là một vị thuốc quý có tác dụng chữa bệnh. Qua cách chế biến tài tình của đồng bào dân tộc, củ ấu tẩu trở thành một món ăn mang hương vị đặc biệt và rất tốt cho sức khỏe.

Tim viec lam o Binh Duong tại khu công nghiệp Vsip 1.

Bản chất ấu tẩu rất độc, muốn khử hết chất độc và chế biến thành món ăn ngon phải có bí quyết riêng. Củ ấu được ngâm kĩ trong nước vo gạo đặc một đêm rồi đem hầm ít nhất trong vòng bốn tiếng cho tới khi mềm, bở tơi thành thứ bột đặc sền sệt. Gạo nếp cái hoa vàng trộn với gạo tẻ thơm, nấu nhuyễn trong nước hầm xương chân giò và bột củ ấu, thêm chút thịt nạc băm nhỏ, chút gia vị vừa đủ. Cuối cùng khi bắc ra đập trứng gà, cho thêm ớt, tiêu, hành, rau mùi, tía tô mới thành một bát cháo hoàn hảo.

Cháo nấu xong mang sắc nâu đậm, dậy lên mùi thơm đặc biệt, chưa ăn đã thấy ngon. Ăn kèm với các loại rau thơm hay măng chua, bát cháo là tổng hòa của các mùi vị: mùi thơm của nếp, vị ngọt của chân giò, vị béo ngậy của trứng, vị chua của măng cùng vị bùi hơi đắng của ấu tẩu. Một vị đắng dễ chịu tạo nên cảm giác lạ miệng cho thực khách, hơi ấm và hương vị lan tỏa, hương vị đặc biệt của bát cháo khiến người ta thật khó mà quên.


Cháo ấu tẩu không chỉ là một món ăn đơn thuần mà còn là vị thuốc bổ giải cảm. Người dân Hà Giang cho rằng, ngoài giúp bồi bổ xương cốt, xua tan mệt mỏi, cháo ấu tẩu còn có tác dụng tạo giấc ngủ ngon vào ban đêm. Có lẽ vậy mà cháo ở đây có cả bốn mùa nhưng thường chỉ bán vào buổi tối. Tối tối khi nhà nhà lên đèn cũng là lúc những hàng cháo ấu tẩu tấp nập khách ra vào. Đêm mùa đông lạnh, lang thang ở thị xã Hà Giang, còn gì thú vị và ấm áp hơn là được thưởng thức một tô cháo nóng hổi bốc khói, đậm đà hương vị miền núi đá Hà Giang.

-Rượu ngô ở Hà Giang



Rượu ngô ở Hà Giang được nấu từ ngô do chính người dân tộc ở đây trồng ra. Ngô được ủ với lọa men lá truyền thống nên khi uống rượu du khách sẽ thấy vị ngọt, thơm của ngô cùng vị cay cay nóng nóng của men. Rượu ngô có độ cồn không cao như những loại rượu gạo miền xuôi, trung bình khoảng 25 – 30 độ nên người uống rượu sẽ không quá lo bị say hay mệt.

Để có được những hạt ngô ngon to nhất để làm rượu ngô, người dân tộc Mông đã phải gùi đất đổ vào các hốc đá rồi tra từng hạt ngô vào đó để trồng. Bằng công lao vất vả để làm ra những chén rượu ngô ngọt du khách sẽ hiểu được giá trị cuộc sống ở nơi này. Mặc có sự cứng của đá, sự khắc nghiệt của thời tiết, người dân tộc đã gieo trồng lên nhiều nương ngô để cho sản lượng ngô lớn.

Ngô trồng được khoảng 4 tháng thì thu hoạch, hạt ngô lúc này đã chắc và vàng hạt. Người dân tộc bắt đầu bước vào giai đoạn thu hoạch, địu sau lưng cái quẩy tấu và nhét đầy bắp ngô cao ngất vào và mang về nhà. Những nương ngô của người Mông cách nhà tận 3 – 4 km, mà người ta cứ địu ngô nặng trên vai và mang bộ về nhà rất vất vả và nặng nhọc. Vượt qua những con dốc, đèo và đá nhọn với 30 – 40 kg ngô trên người. Để mang về những hạt ngô to nhất để làm món rượu ngô ngon.

Cực nhọc là vậy, nhưng người Mông Cao nguyên đá cũng không quên dành cho mình những giây phút được thả mình thư giãn. Và thế là việc nấu rượu ngô trở thành một thú vui không chỉ của đàn ông mà cả đàn bà, thanh niên cũng rất thích thú. Họ sử dụng những phần ngô không dùng hết cho vào ủ men nấu rượu để vừa uống, biếu khách và thậm chí có nhiều nhà làm ra được nhiều thì đem bán. Vào mỗi nhà trong bản, hầu như nhà nào cũng để dự trữ vài lít rượu ngô

-Thắng dền



Thắng dền là món bánh ăn chơi mùa đông, nên phải khi có gió lạnh tràn về thì người ta mới bắt đầu làm bánh. Thắng dền thoạt nhìn trông giống bánh trôi tàu ở Hà Nội, bánh cống phù ở Lạng Sơn, nhưng lại có cách chế biến và hương vị khác biệt, khiến du khách ăn thử một lần sẽ thấy ấm áp khó quên.


Làm thắng dền không khó nhưng trải qua nhiều công đoạn. Thứ gạo làm bánh là gạo nếp Yên Minh (loại gạo nếp ngon nhất tỉnh Hà Giang), hạt to tròn đều và dẻo thơm. Gạo được vo sạch rồi ngâm nước qua một đêm, hôm sau mang đi xay bột nước rồi đổ vào một chiếc túi vải, đợi đến khi túi bột nhỏ hết nước, bột đặc mịn mới đem ra làm bánh.

Nguồn tham khảo thêm: svhttdl.hagiang.gov.vn