Thứ Tư, ngày 18 tháng 5 năm 2016

Du lịch Quảng Trị

Quảng Trị giáp Quảng Bình ở phía Bắc, Thừa Thiên – Huế ở phía Nam, nước bạn Lào ở phía Tây và biển Đông ở phía Đông. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, con người trên mảnh đất này với truyền thống lao động, cần cù, chịu khó, truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường đã làm nên những kỳ tích hào hùng, để lại nhiều di tích lịch sử vô giá

* Địa điểm du lịch:

-Cầu Hiền Lương - Sông Bến Hải :



Cầu Hiền Lương - Sông Bến Hải. Con sông một hình ảnh đẹp về quê hương, về sự bình yên. Thế nhưng lại có một con sông phải mang trong mình nỗi uất hận, oằn mình chịu cảnh chia cắt quê hương chia cắt đất nước, một con sông bị xẻ làm đôi 2 bờ giới tuyến. Con Sông Bến Hải ở Quảng Trị từng phải chịu nỗi chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam hơn 20 năm ròng rã trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Sông Bến Hải bắt nguồn từ núi Động Chân thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vĩ tuyến 17 từ Tây sang Đông rồi đổ ra cửa Biển Cửa Tùng. Sông Bến Hải có tổng chiều dài gần 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200m, nơi hẹp nhất khoảng 20 -30m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của tỉnh Quảng Trị.

Sông Bến Hải lúc đầu có tên Minh Lương. Vào thời vua Minh Mạng do trùng với chữ “Minh” phạm phải kiêng húy tên của Vua (chữ “Húy” đồng ngĩa với “Kỵ” tức là kiêng kỵ , theo luật phong kiến trong phạm vi quốc gia mọi thần dân kiêng kị tên huý của vua không được phép dùng để đặt tên cho con cái trong gia đình… cũng như không được phép dùng trong văn tự hay trong lời nói hàng ngày). Do vậy tên làng, tên sông đều đổi thành Hiền Lương. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông “Bến Hói”, tiếng địa phương “hói” có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc lệch ra là Bến Hải.

Cho đến nay Cầu Hiền Lương đã qua nhiều lần thay đổi cấu trúc, nhưng chiếc cầu lịch sử vẫn là chiếc cầu từ 1952 đên 1967 thì bị máy bay Mỹ ném bom phá sập. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần.

Năm 1954 Hiệp định Genève ký kết quy định lấy vĩ tuyến 17 sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời; sau hai năm sẽ thực hiện cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Việt Nam (quy định vào tháng 7/1956). Trong tuyên bố chung của Hội nghị Giơnevơ 1954 ghi rõ: "Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ".

Đế quốc Mỹ với âm mưu từ trước đã ra sức thực hiện ý đồ độc chiếm miền Nam Việt Nam, nhằm tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Mỹ đã hất cẳng pháp khỏi miền nam Việt Nam, ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam. Cả dân tộc ta phải thực hiện một cuộc trường chinh kéo dài hơn 20 năm chia cắt.

“Cách một con sông mà đó thương đây nhớ
Chung một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa”

Một dòng sông rộng không quá 100 mét, một chiếc cầu dài 178 mét, với 894 tấm ván bắc qua mà dân tộc Việt Nam phải đi suốt 21 năm ròng, đổi không biết bao xương máu (Ba nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và hàng ngàn nghĩa trang trong khắp cả nước với hàng vạn cán bộ chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống). Có những trận chiến ác liệt với bom đạn, và cũng có những trận chiến ác liệt nhưng không một tiếng súng. Những cuộc đấu trí, đấu lý rất gay gắt và quyết liệt giữ ta và Địch bên lề giới tuyến 17.

- Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn:



Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tọa lạc trên khu đồi Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách trung tâm tỉnh lỵ (thị xã Đông Hà) khoảng 38km về phía Tây bắc; cách quốc lộ 1A (ở đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía Tây bắc.

Sau ngày đất nước thống nhất, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã phê chuẩn dự án xây dựng nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn tại địa bàn tỉnh Quảng Trị làm nơi tưởng niệm, tôn vinh những người con thân yêu của tổ quốc đã anh dũng hy sinh xương máu của mình trên các nẻo đường  Trường Sơn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nghĩa trang được khởi công xây dựng vào ngày 24/10/1975 và hoàn thành vào ngày 10/4/1977. Chỉ huy xây dựng là Bộ tư lệnh sư đoàn 559 với sự tham gia của hơn 40 đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Ngoài ra còn có tổ công nhân chuyên khắc chữ vào bia đá xã Hoà Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi quy tụ 10.333 phần mộ của các liệt sỹ; có tổng diện tích 140.000m2; trong đó, diện tích đất mộ là 23.000m2, khu tượng đài 7.000m2, khu trồng cây xanh 60.000m2, khu hồ cảnh 35.000m2 và mạng đường ô tô rải nhựa trong khuôn viên nghĩa trang 15.000m2. Phần đất mộ được phân thành 10 khu vực chính.

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi an nghỉ đời đời của các chiến sĩ đã hy sinh trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong thời kì chống Mỹ cứu nước. Đây là một công trình đền ơn đáp nghĩa đồ sộ nhất, quy mô nhất có tính nghệ thuật cao, thể hiện lòng thương nhớ sâu sắc, niềm biết ơn và sự tôn vinh thầm kín của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đối với những người con yêu quý trên mọi miền đất nước đã không tiếc máu xương cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước.


- Di tích khu lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn :



Là tên gọi chung cho một quần thể di tích bao gồm: Nhà lưu niệm đồng chí Lê Duẩn – nơi sinh hoạt của gia đình đồng chí từ khi chuyển từ Bích La Đông lên Hậu Kiên và hiện nay là nơi thờ tự hai cụ thân sinh và đồng chí tại quê hương. Nhà tưởng niệm, là nơi tổ chức lễ viếng thăm của khách hành hương và khách tham quan. Nhà trưng bày lưu niệm là nơi trưng bày những hiện vật, tư liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp đồng chí Lê Duẩn.
Khu di tích lưu niệm Tổng bí thư Lê Duẩn là một di tích lịch sử lưu niệm danh nhân tiêu biểu của Tỉnh Quảng Trị, gắn liền tuổi trẻ và những năm tháng hoạt động cách mạng của đồng chí ở quê nhà với sự tồn tại và phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nằm trên khuôn viên có diện tích 400m2.. Nguyên trước đây là nhà và v­ườn của cụ thân sinh Lê Hiệp. Nhà làm bằng gỗ, khá khang trang. Trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, ngôi nhà bị đốt cháy nhiều lần, chỉ còn trơ lại nền và khu vườn hoang vắng. Sau khi đất  nước hoà bình thống nhất (1976), huyện Triệu Hải (cũ) cùng bà con quê hương đã xây dựng nên một ngôi nhà để vừa làm nhà l­ưu niệm, thờ cúng gia tộc vừa làm nơi nghỉ ngơi cho đồng chí Lê Duẩn mỗi lần về thăm quê. Ngôi nhà đ­ược khởi công xây dựng vào tháng 2/1976 và hoàn thành vào cuối năm đó. Nhà lúc đầu lợp tranh, xung quanh che chắn bằng gỗ ván. Cuối năm 1977, mái tranh bị hỏng nặng do sự tác động của nắng m­ưa, gió bão nên UBND tỉnh Bình Trị Thiên đã cho lợp lại bằng ngói và tồn tại cho đến đầu năm1994. Nhà dài 9m, rộng 4,5m, kết cấu theo dạng nhà băng 3 gian, 2 chái. Bao quanh nhà là 4 hàng rào chè tàu đ­ược cắt tỉa cẩn  thận, phía sau khuôn viên trồng các loại cây cảnh và cây ăn  trái. Ngoài Nhà Lưu niệm còn có Nhà trưng bày, Nhà tưởng niệm và một số công trình phụ trợ khác đã tạo thành Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn.

- Hang động Brai, Hướng Hóa :



Đây là một hang động hoang sơ rất rộng và cao, cửa hình tam giác nhiều người có thể đi qua. Động có nhiều khối thạch nhũ màu vàng, trắng với hình dáng khác nhau. Bên trong còn có những khoảng rộng với các bãi đá ngầm, có nước chảy như dòng suối nhỏ. Càng vào sâu bên trong có nhiều khối thạch nhũ lớn và đẹp hơn.
Hiện chỉ mới  khám phá bên trong hang động khoảng 500 m, theo phán đoán của cán bộ Khu bảo tồn bắc Hướng Hóa thì chắc chắn hang này còn rất sâu, vì có thể nằm trong hệ thống đá vôi nối liền với Quảng Bình. Hang Động này được Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa đặt tên là động Brai. dự kiến sẽ đưa vào tuyến du lịch sinh thái , đây là điểm du lịch mới làm sinh động Du Lịch Quảng Trị và rất hấp dẫn các tuyến du lịch sinh thái.


* Món ngon Quảng Trị:


Bún hến Mai Xá



Sự khác biệt của món bún hến Mai Xá với những thương hiệu bún khác chính là “chắt chắt”, một loài sinh vật nước lợ giàu chất đạm nên rất bổ dưỡng. Nhìn bề ngoài, chắt chắt nhỏ hơn hến và có màu đen sậm vì chúng thường sống dưới bùn cát để trốn kẻ thù và tìm kiếm thức ăn.
Thịt chắt chắt vị ngọt mặn, tính hàn, không độc, có tác dụng hoạt tràng, thông khí, mát gan, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu. Những ai từng ăn chắt chắt do chính người Mai Xá chế biến chắc chắn không quên hương vị ngọt ngào của món ăn dân dã, rẻ tiền này.

- Bánh Tu Huýt



Bánh Tu Huýt ở Quảng Trị thường được làm từ bột sắn, hoặc bột khoai nhưng để có những chiếc bánh ngon thì trộn lẫn cả 2 thứ bột này lại sẽ tạo nên một hương vị lạ hơn.

Để làm món bánh này được ngon phải lựa chọn từ những củ sắn – khoai lang ngon nhất, không bị sâu, cạo bỏ vỏ lụa bên ngoài, rửa sạch, xắt lát phơi khô bảo quản trong những bao nilon để tránh ẩm mốc, thường để dành đến mùa mưa đem ra sử dụng (loại khoai khô này ở Quảng Trị gọi là Khoai Rứa ở một số nơi khác gọi là Khoai Xéo). Khoai, Sắn lát khô được xay thành bột mịn, khi làm bánh bột sắn làm cho bánh ngon dẻo, Khoai có vị ngọt và thơm. Theo kinh nghiệm của những người ở quê thì đem hai thứ bột này trỗn lẫn với nhau thì bánh sẽ ngon hơn.

- Thịt trâu lá trơng



Nếu đã đến Quảng Trị bạn không nên bỏ qua món Thịt Trâu Lá Trơơng một món ăn độc đáo ở vùng đất nắng gió này.  Thịt Trâu  là món ăn ngon đầy bổ dưỡng và ở mỗi miền có những cách chế biến khác nhau thành những món ngon. Thịt Trâu vị ngọt, có tác dụng bổ khí huyết, mạnh gân cốt … Thịt Trâu có tác dụng chữa bệnh rất hữu ích có thể chữa được chứng phong thấp sưng tê; chứng đau lưng; phù chân. Về mặt sức khoẻ thịt Trâu tốt hơn thịt Bò.
Thịt Trâu Lá Trơng được chế biến từ loại thịt Trâu non được nhập từ Lào, Trâu non nên thịt thường mềm, ngọt, không dai và được chế biến theo các kiểu chính như: Nướng, Hấp, Xào.. mỗi món có một hương vị độc đáo riêng. Đặc biệt điều làm nên cái độc đáo và sự khác biệt chính là sự kết hợp giữa Thịt Trâu và Lá Trơng (Lá Trơng), một loại cây lá gai thường mọc hoang ở vùng rừng núi Quảng Trị,  Lá Trơng non có mùi thơm, cay rất đặc trưng. Khi ăn vị ngọt của thịt Trâu hòa quyện cùng  vị cay và mùi thơm của lá Trơng tạo nên một hương vị đặc trưng khó quên làm mê mẩn thực khách thưởng thức.

- Cháo bột Quảng Trị



Cháo cá vạt giường hay còn gọi là cháo cá, cháo bột. Là một món ăn đặc sản dân dã của  người dân Quảng Trị, Cháo Bột Quảng Trị có hương vị hấp dẫn đặc trưng riêng, khi ăn chắc chắn bạn sẽ muốn thêm tô thứ hai .
Đặc trưng của cháo bột là cá tràu (có nơi gọi là cá quả, cá lóc, cá chuối, một số vùng ở Quảng Trị còn gọi là cá đô, cá tràu v.v…). Cá tràu phải chọn loại thật tươi, còn sống, đem làm sạch. Điều đặc biệt ở đây làm cá không được vứt bỏ ruột. (Một tô cháo bột sẽ mất ngon khi không có “bột lòng” cá! Có vị khách sành ăn còn muốn tô cháo của mình chỉ có toàn ruột cá tràu). Cá tràu làm xong để nguyên con luộc vừa chín tới, tách thịt ra ướp kỹ cùng với các gia vị khác như muối, tiêu, ớt.
Muốn ngon phải ăn thật nóng, bưng tô cháo bột đang nghi ngút khói, cảm nhận được mùi vị thơm ngon. Những người bán cháo ở đây không mua bột bán sẵn ngoài chợ mà mua gạo về rồi tự xay, lọc, lắng thành bột khô. Vì thế cánh bột rất mềm và tươi ngon, thơm mùi gạo lại không bị chua, bán bao nhiêu làm bấy nhiêu chứ không để dư thừa.

Thứ Năm, ngày 12 tháng 5 năm 2016

Du lịch Thanh Hoá


* Địa điểm du lịch

-  Vườn quốc gia Bến En


 Thuộc địa phận huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hoá 36km về phía tây nam.
Đặc điểm: Tổng diện tích rừng tự nhiên là 16.634 ha, trong đó diện tích rừng nguyên sinh là 8.544 ha với một quần thể nhiều núi non, sông suối, vùng hồ trên núi với nhiều tên gọi và huyền tích về các địa danh.
Vườn quốc gia Bến En có nhiều sinh vật quí. Tại đây có tới 462 loài cây thuộc 125 họ thực vật, gồm những giống loài quí như lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương... Có các loại thú quí hiếm như sói đỏ, gấu ngựa, vượn đen, phượng hoàng đất, gà tiền mặt vàng...
Phong cảnh của vườn quốc gia Bến En đầy thơ mộng. Hồ sông Mực rộng 3.000 ha với hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ. Nhiều hang động nhũ đá lung linh huyền ảo.
Đến với vườn quốc gia Bến En, du khách có dịp tìm hiểu, nghiên cứu về các loài động thực vật quí hiếm ở đây, sống giữa rừng đại ngàn nghe chim kêu vượn hú thâu đêm, nướng cá bên khe suối... thật thú vị. Trong tương lai Bến En sẽ trở thành một khu du lịch rất hấp dẫn.

-Đền Bà Triệu

Đền thờ bà Triệu được dựng trên núi Gai (còn gọi là núi Ải) sát đường quốc lộ 1A, thuộc làng Phú Điền, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 137km.
Đặc điểm: Hiện nay lăng tháp vẫn còn, tuy đơn sơ, giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trên đường thiên lý ra Bắc vào Nam, khách bộ hành thường dừng chân, lên núi Gai, tưởng niệm vị nữ tướng anh hùng, viếng lăng và thưởng ngoạn cảnh đẹp.
Tên thật của bà là Triệu Thị Trinh, nhưng nhân dân quen gọi là Bà Triệu với lòng kính cẩn, nhớ công ơn bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Ngô thế kỷ thứ 3.
Qua cổng là hồ sen, bốn bề kè đá. Tiếp theo là nhà Tiền đường gồm 5 gian, cột đá mài vuông cạnh. Sau nhà Tiền đường là một khoảng sân nhỏ, hai bên tả hữu là nhà tiếp khách và sửa lễ. Cuối sân là 3 gian hậu cung, dựng trên mặt bằng cao hơn, dựa vào vách núi. Đối diện với đền trên là núi Gai, ở phía bên kia quốc lộ 1A là núi Tùng - nơi có lăng Bà Triệu.

-Di tích Thành nhà Hồ



Thành Nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 150km.
Đặc điểm: Thành do Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397 bằng những khối đá xanh rất lớn và kiên cố.Thành nhà Hồ hay còn được gọi là thành Tây Ðô.
Thành được xây dựng vào năm 1397 thời nhà Hồ. Thành có hình vuông, mỗi cạnh dài gần 500m, được xây bằng đá xanh cao khoảng 4,2m. Thành có 4 cửa. Cửa phía Nam rất giống cửa phía Nam thành Thăng Long. Quanh thành có hào sâu, phía trong thành là cung điện uy nghi lộng lẫy. Từ cửa Nam xây đường lát đá thẳng đến đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn.
Sau khi xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời triều từ Thăng Long về Tây Ðô. Nhưng nhà Hồ đã tồn tại được 7 năm (1400-1406).
Trải qua hơn 6 thế kỷ cho đến nay toà thành còn lại cửa phía Nam với 3 cổng vòm cuốn bằng đá xanh. Khung tường thành còn lại là những bức tường bằng đất.

- Bãi biển Sầm Sơn 

Bãi biển Sầm Sơn là nơi tắm biển rất tốt mà người Pháp đã biết khai thác từ năm 1906 và Sầm Sơn nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng của Ðông Dương. Từ những thập kỷ trước, đã có nhiều biệt thự nghỉ mát mọc lên ở đây. Vua Bảo Ðại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở Sầm Sơn. Sầm Sơn có nhiều cảnh đẹp: hòn Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên...
Bờ biển Sầm Sơn dài 10km bằng phẳng và nhiều hải sản quý như tôm he, cá thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vùng biển bao la với những thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách. Bãi biển Sầm Sơn là một trong những bãi biển rộng và đẹp ở phía bắc.


* Ẩm thực xứ Thanh

- Gỏi cá nhệch



Gỏi cá nhệch là món ngon nức tiếng ở vùng quê Nga Sơn (Thanh Hóa). Món ăn khiến người ta nhớ đến cả một vùng xứ sở bởi gỏi nhệch ở đây mang nét vị riêng có. Nếu những nơi khác ăn gỏi kèm mắm tôm, nước mắm thì điểm nhấn cho gỏi cá Nga Sơn chính là chẻo nhệch. Chẻo ăn cùng gỏi cá là bí quyết làm nên sự khác biệt, được chế biến từ xương cá giã nhuyễn chưng cùng mẻ chua và các loại gia vị đặc trưng khác. Chẻo bày ra bát nhỏ, có màu đỏ sậm, đặc sánh, đậm đà, váng mỡ và thơm nức mũi.

-Nem chuaThanh Hoá


Là đặc sản nổi tiếng gợi nhớ tới vùng quê đầu miền Trung nắng gió. Quả nem chỉ to bằng chiếc chén pha trà, gói bằng lá chuối tươi, lạt giang trắng buộc quanh chữ thập 6 mặt trông nho nhỏ, khéo khéo, trăm quả như một mà làm say lòng du khách:

“Bạn đến chơi nhà ta với ta

Có chai rượu đậu bóc nem ra …”

Được làm từ thịt sống, bì lợn cùng các gia vị như tiêu, tỏi, ớt cho lên men đến chín, khi ăn có vị chua dịu đậm đà, từ chiếc nem chua cổ truyền, người dân Thanh Hóa sáng tạo ra rất nhiều loại và cách chế biến, thưởng thức khác nhau.

-Bưởi tiến vua



Là loại quả tiến vua, bưởi Luận Văn khác các loại bưởi khác ở chỗ có mùi thơm rất đặc trưng. Dịp Tết đến, chỉ cần bày lên mâm quả là bưởi có thể thơm lừng khắp không gian nhà.
Bưởi Luận Văn lúc chín sẽ có màu đỏ, từ múi đến vỏ vô cùng đẹp mắt. Tầm tháng 11, 12 chính là thời điểm bưởi sẽ chuyển sang thứ màu đỏ hấp dẫn này. Bưởi không những có mùi thơm đặc trưng mà còn mang vị chua ngọt rất dễ chịu.

Một quả bưởi đạt tiêu chuẩn tiến vua xưa kia phải đạt khoảng 1.5kg trở lên, thân tròn trịa, rốn bưởi phải ở chính giữa. Theo người dân trồng bưởi lâu năm ở làng Luận Văn thì trong 1000 quả có khi chỉ chọn được 100 quả đạt tiêu chuẩn như vậy.

- Chả tôm 



Được làm từ bánh phở cuốn, nhân là tôm bóc vỏ giã nhuyễn, thịt ba chỉ rán vàng băm cùng hành khô, xào với chút hạt tiêu. Chả được kẹp vào nẹp tre tươi nướng trên lửa than hoa, ăn cùng rau sống. Nước chấm làm từ mắm pha loãng cùng đu đủ xanh thái mỏng, sung thái lát, ớt tươi, tỏi, dấm, đường… Những phố bán chả tôm nổi tiếng là Nhà Thờ, Lê Thị Hoa, Đào Duy Từ (từ 3h chiều), với giá khoảng 30.000 đồng một đĩa.

Thứ Ba, ngày 15 tháng 3 năm 2016

Du lịch Hà Tĩnh

*Địa điểm du lịch Hà Tĩnh :


 Chùa Hương Tích




Chùa Hương Tích nằm ở dãy núi Hồng Lĩnh, thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Chùa được xây dựng vào đời Trần, là một trong hai ngôi chùa Hương nổi tiếng ở Việt Nam. Hồng Lĩnh là thắng cảnh nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Từ xưa, dãy núi 99 ngọn vút cao này đã được xếp vào 1 trong 21 danh thắng của nước Nam. Ðặc biệt sự hiện hữu của chùa Hương Tích với nhiều kỳ quan liên kết đã xứng danh là "Hoan Châu đệ nhất danh lam"

Chùa Hương Tích ở Hà Tây thật ra chỉ là một "phiên bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Theo cuốn Hương Sơn thiên trù thiền phả, một vị hoà thượng được lệnh của chúa Trịnh (sau khi đi tuần thú) xác định địa điểm và cho xây dựng chùa Hương Tích ở Hà Tây từ đời Lê Huy Tông dưới niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1704).

Trong khi theo sách Hương Sơn báu quyển, chùa Hương ở Hà Tĩnh là một động cao và khuất, thường có mây mù bao phủ. Chùa này được chính thức xây dựng từ đời Trần (có thể đồng thời với chùa Yên Tử). Khi Trần Nhân Tông lên tu ở chùa Hoa Yên (Yên Tử), trại trạng nguyên Bạch Liêu, quê huyện Yên Thành (phủ Diễn Châu), cũng dời nhà vào chân núi Hồng Lĩnh cho tiện việc thắp hương ở chùa Hương Tích.

Vậy vì sao lại có thêm một chùa Hương "phiên bản" ở phía Bắc? Câu trả lời là vào thời Lê - Trịnh, các vua Lê - chúa Trịnh phần lớn có quê ở xứ Thanh (xem Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái) nên các phi tần, mỹ nữ đa số được tuyển chọn ở miền Hoan Châu. Hàng năm các cung phi, cung nữ Thanh - Nghệ thường chảy hội chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh vào ngày 18/02 âm lịch bằng đường thuỷ qua cửa Hội Thống (gần Cửa Lò bây giờ).

Mỗi lần những "người đẹp" đi xa như vậy khiến chúa Trịnh rất phân vân (tuy đã bố trí lính vệ phục vụ dọc đường), do đó chúa Trịnh mới gọi một vị hoà thượng xác định địa điểm ở miền rừng núi Hà Tây để xây chùa Hương Tích thứ hai mà thờ vọng để các "người đẹp" đi trẩy hội gần hơn (theo dẫn giải của ông Bùi Văn Nguyên, nguyên tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam). Như vậy nhờ "sáng kiến" của chúa Trịnh mà nước ta có hai chùa Hương Tích.


 Ngã ba Đồng Lộc




Ngã ba Đồng Lộc nằm ở giao điểm của tỉnh lộ số 2 và quốc lộ 15, thuộc địa phận huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã phải hứng chịu hàng ngàn trận bom của máy bay Mỹ và sự hy sinh cao cả của tiểu đội 10 cô gái thanh niên xung phong.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ngã ba Ðồng Lộc là cửa ngõ giao thông từ miền Bắc và đường mòn Hồ Chí Minh. Máy bay Mỹ đã tập trung khối lượng bom đạn rất lớn đánh phá ngã ba này và đoạn đường xung quanh. Trên một đoạn đường chưa đầy 20km đã phải hứng chịu 2.057 trận bom.

Tiểu đội nữ thanh niên xung phong do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng có 15 cô tuổi từ 17 đến 24, được giao nhiệm vụ sửa đường cho xe qua. Ngày 24/7/1968 sau nhiều trận bom cày nát đoạn đường, các cô vẫn không rời vị trí. Vừa dứt tiếng bom, các cô lại lao ra dùng cuốc, xẻng san lấp hố bom, vá đường, thông xe. Ðến 16h30', trận bom thứ 15 trong ngày lại dội xuống Ðồng Lộc, một quả rơi sát miệng hầm nơi 10 cô gái đang tránh bom. Tất cả 10 cô đã hy sinh, trong tay chỉ có cuốc, xẻng. Chưa ai trong họ có gia đình riêng.

Ngã ba Ðồng Lộc ngày nay là nơi yên nghỉ của 10 cô gái trên đồi, cạnh hố bom năm xưa xanh mướt màu xanh cây lá, vi vút tiếng thông reo. Tại đây có đài liệt sỹ lưu danh 10 cô gái anh hùng.

Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du




Toàn bộ khu di tích Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền nằm rải rác trên vùng đất rộng chừng 20 ha từ bờ nam Sông Lam đến xứ Đồng Cùng, bao gồm đền thờ Nguyễn Huệ Đại Vương, cầu Tiên, khu lưu niệm, đền thờ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng, từ đây đi về khoảng 1 km sẽ đến mộ Nguyễn Du.

Cầu Tiên không rõ được xây dựng vào năm nào, theo “Nghi Xuân huyện chí” thì Xuân Nhạc Công Nguyễn Nghiễm cùng Tri phủ Đặng Sỹ Vinh và Đặng Hiến Phó trùng tu lại có dựng bia đá vào năm Canh Thân (1740). Theo chữ ghi trên bia Cầu Tiên cho biết đây là nơi nhiều nguồn nước từ Hồng Lĩnh cùng các nơi khác trong huyện hội tụ về. Hiện nay bia đặt ở nhà Tư văn 2 trong Khu lưu niệm.

Khu lưu niệm Nguyễn Du rộng khoảng 2 ha, từ cổng chính đi vào qua bệ đá khắc hai chữ "Hạ Mã", lần lượt đến nhà khách, nhà tư văn, bia tưởng niệm Nguyễn Quỳnh, nhà thờ Nguyễn Du, nhà trưng bày bảo tàng Nguyễn Du.

Nhà Tư văn 2, Tư văn 1 làm bằng gỗ lim lợp ngói vảy, xung quanh có tường cao. Hai nhà này là nhà văn thánh của huyện Nghi Xuân do Nguyễn Nghiễm đưa về năm 1790 bị cháy, người trong họ Nguyễn và quan viên trong huyện dựng lại.
Nhà thờ Nguyễn Du được xây dựng vào năm 1825 trên mảnh vườn nhà tại làng Tiên Điền. Trong nhà có bàn thờ bằng vôi cát, một bàn nhỏ để góc bút nghiên, trên bàn thờ có một bức hoành đề chữ “ Hồng Sơn thế phả” do Hoàng Phù phái tước Trung hiến Đại phu tặng vào năm thứ 55 triều Càn Long đời nhà Thanh, phía ngoài nhà thờ treo bức đề chữ “ Địa linh nhân kiệt”.

Từ cổng chính đi vào bên phải nhà thờ Nguyễn Du là nhà trưng bày bảo tàng. nội thất nhà trưng bày ngoài một số tài liệu tranh ảnh minh hoạ tác phẩm của Nguyễn Du thì có một số hiện vật quý như: nghiên mực, đĩa mai hạc Nguyễn Du được tặng trong thời gian đi sứ, nậm và chén uống rượu, gạc nai treo áo, la bàn dùng đi săn, bức phù điêu bằng gỗ ghi lại hình ảnh rước Tiến sĩ, hoàn sắc của Nguyễn Nghiễm.

Từ khu lưu niệm về phía đông vài trăm mét là đến đền thờ Nguyễn Nghiễm còn gọi là đền Đức Đại Vương. Trước cổng là hai voi đá và ngựa đá, thượng điện nay chỉ còn bàn thờ bằng đá thanh, bát hương bằng đá, mái lợp ngói xi măng. Hạ điện làm bằng gỗ li, lợp ngói mũi hài.

Ngoài khu lưu niệm là phần mộ đại thi hào Nguyễn Du, mộ được xây bằng gạch bao gồm 3 phần: bàn thờ, phần mộ và vườn cây. Bàn thờ có bia tường hình cuốn thư, lư hương. Bia bằng đá Thanh đề dòng chữ “Danh nhân văn hoá thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du”. Quanh bia khắc hình hoa văn thế kỷ XVIII theo luật đường triện.


 Hồ Kẻ Gỗ




Hồ Kẻ Gỗ thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Vinh 70km về phía nam. Hồ là một cảnh đẹp nhân tạo nằm giữa các sườn đồi.

Công trình hồ Kẻ Gỗ được khởi công xây dựng năm 1976 và hoàn thành vào năm 1980. Hồ dài gần 30km, gồm 1 đập chính và 10 đập phụ với sức chứa 300 triệu m3 nước. Ngày nay, hồ Kẻ Gỗ còn là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Đến thăm hồ Kẻ Gỗ, du khách có thể tắm mát, câu cá, leo núi hay săn bắn trên các triền núi ven hồ. Hồ Kẻ Gỗ còn là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào cho các vùng lân cận. Cá tôm dưới đáy hồ rất to và thơm thịt. Con lớn nặng tới vài chục kg.


 Biển Thiên Cầm




Biển Thiên Cầm thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh hơn 20km. Tục truyền xưa, vua Hùng trên đường xuống phương nam, đến đây nghe tiếng sóng vỗ vào hang núi vọng ra âm thanh như tiếng đàn bay lơ lửng trong không gian nên nhà vua đặt tên núi là Thiên Cầm (đàn trời).

Biển Thiên Cầm là một vùng thiên nhiên hoang sơ. Nơi đây chỉ có tiếng sóng dội vào hang núi khiến những chuông đá, khánh đá vọng vang trở thành khúc nhạc muôn điệu như những tiếng đàn trời có tự ngàn xưa.

Bãi biển Thiên Cầm như hình cánh cung trải dài gần 3km bắt đầu từ núi Thiên Cầm đến núi Đầu Voi, cùng với Cùm Nậy (núi lớn) và Cùm Con (núi bé) tạo nên những phím đàn trời án ngự dòng suối Kỳ La, để dòng suối trong vắt này uốn lượn rồi đổ ra biển.

Bờ cát trắng chạy dài thoai thoải hàng trăm mét ra biển, nước biển trong vắt và âm vang đàn trời đã làm nên sự hấp dẫn của vùng biển này.

*Ẩm thực Hà Tĩnh :

Kẹo Cu Đơ




Nói đến Hà Tĩnh là nói đến kẹo cu đơ, loại kẹo đã trở thành đặc sản của mảnh đất “gió Lào chát mặn” này. Kẹo cu đơ được chế biến từ lạc, mật mía, gừng... những nguyên liệu dân dã mang đậm hương vị quê. Nổi tiếng nhất ở Hà Tĩnh là thương hiệu Cu đơ ông bà Thư Viện, Cu đơ Cầu Phủ, Cu đơ Hương Sơn.
Người ta ăn kẹo cu đơ thường uống kèm với nước chè xanh để vị ngọt của kẹo hòa quyện vào vị chát của chè xanh, tạo nên cảm giác ngọt ngọt, bùi bùi khó tả đúng như câu thơ quen thuộc: “Chè xanh thêm chút gừng cay/ Cu đơ Hà Tĩnh làm say lòng người”.


Mực nhảy Vũng Áng




Vùng biển Vũng Áng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh là khu kinh tế cảng biển sầm uất, sôi động, non nước hữu tình nổi tiếng với món hải sản có tên là mực nhảy. Vì mực ở đây khá to con, được chế biến ngay sau khi đánh bắt, vẫn giữ nguyên được độ tươi nên người dân địa phương đặt tên là mực nhảy.
5 đặc sản ẩm thực ngon tuyệt cú mèo của tỉnh Hà Tĩnh
Mực nhảy có thể được chế biến thành nhiều món ăn khác như luộc, xào, hấp hay gỏi. Mực nhảy có vị tươi, ngon, thơm rất đặc trưng, khác hoàn toàn so với các loại mực ở vùng biển khác trên cả nước.


Thứ Ba, ngày 02 tháng 2 năm 2016

Du lịch Hà Giang

Hà Giang nằm ở biên giới ở cực bắc của Tổ quốc. Hà Giang có nhiều cảnh đẹp, núi đá vôi và suối nước nóng độc đáo như Cao nguyên đá Đồng Văn, Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, hồ Noong,…


* Điểm đến Hà Giang

-Công viên Địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn





Cao nguyên đá Đồng Văn là Công viên Địa chất toàn cầu duy nhất tại Việt Nam và thứ hai của Đông Nam Á được UNESCO công nhận từ năm 2010. Nằm ở độ cao trung bình 1000 – 1600 mét so với mực nước biển, cao nguyên đá Đồng Văn có diện tích gần 2356 km2 trải dài qua 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Để đến với cao nguyên, du khách phải trải qua những cung đường đèo khúc khuỷu, càng lên cao sương mù núi càng dày, du khách sẽ ngỡ ngàng hòa mình vào khung cảnh trữ tình của rừng núi. Vượt qua chặng đường đèo khó khăn, trước mắt du khách hiện ra khung cảnh hùng vĩ hoang sơ của những dãy núi đá tai mèo sừng sững thuộc cao nguyên đá, nơi hội tụ những cảnh quan đa dạng có giá trị khoa học phong phú.
Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn là nơi chứa đựng phong phú các loại hình di sản địa chất, di sản văn hóa và đa dạng sinh học. Theo đánh giá của các nhà khoa học, nơi đây có cảnh quan địa chất và kiến tạo địa chất điển hình cho sự hình thành của lớp vỏ trái đất ngày nay. Các nhà khoa học đã tìm thấy ở đây những hóa thạch cổ sinh của các loài sinh vật như tay cuộn, bọ ba thùy và nhiều loại hóa thạch cổ sinh khác có niên đại cách ngày nay khoảng 541 – 400 triệu năm. Qua khảo sát thực địa đã phát hiện có khoảng 40 điểm di sản hoặc điểm có giá trị về mặt tài nguyên, có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, trong đó gồm 7 di sản về tiến hóa trái đất, 7 di sản về vườn đá, 6 di sản về vách đá dốc đứng có độ cao từ 200 – 600 mét.


-Đường Hạnh Phúc, Hà Giang – Con đường của máu và hoa

Quốc lộ 4C với chiều dài 185km xuyên cao nguyên đá Đồng Văn mang tên là đường Hạnh Phúc vốn là con đường được khởi đầu và thành hình từ công sức và cả máu xương của hàng vạn thanh niên xung phong từ những năm 50 – 60 thế kỷ trước…

Với dân phượt nói riêng và những ai yêu thích khám phá vùng cao nói chung thì đường Hạnh Phúc là một hành trình đặc biệt. Hầu hết du khách muốn chinh phục cung đường này để thấy được cảnh sắc hùng vĩ cùng cuộc sống tươi đẹp phải vượt qua những con đèo cao vút như đèo Bắc Sum, đèo Cổng Trời, đèo Cán Tỷ, đèo Mậu Duệ, ngược lên Lũng Cú vời vợi mây trời. Và đặc biệt là vượt qua bức tường thành Mã Pì Lèng danh tiếng.

Đường Hạnh phúc – Con đường của gian khổ, hy sinh, của cả hoa và máu; là huyền thoại về sức trẻ của thanh niên 16 dân tộc thuộc các tỉnh Cao-Bắc-Lạng-Hà-Tuyên-Thái và Nam Định, Hải Dương trong suốt 8 năm lao động thủ công quên mình với trên 2 triệu ngày công. Riêng ở dốc Mã Pí Lèng – nóc nhà của vùng cao nguyên đá, công nhân đã treo mình 11 tháng để mở đường.

Được Đảng và Nhà nước ta quyết định mở tuyến đường nối tỉnh lỵ Hà Giang với các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc từ năm 1959 và lấy tên là đường Hạnh Phúc dài gần 200km; chạy xuyên qua cao nguyên đá Đồng Văn, qua đỉnh Mã Pì Lèng. Tuyến đường Hạnh Phúc đi qua đèo Mã Pì Lèng cũng là đoạn đường nhiều khúc cua và khó đi nhất. Việc phá đá mở đường qua đoạn này cũng mất nhiều công sức, xương máu hơn cả, riêng đoạn Đồng Văn – Mèo Vạc dài 24km đường núi đá đã phải mất gần 2 năm (9/1963 – 3/1965) mới hoàn thành, trong đó để qua được “Vạn Lý trường thành bằng đá” này hơn 1000 thanh niên xung phong của bà con 16 dân tộc anh em thuộc các tỉnh Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà, Nam Định, Hải Dương phải treo mình 11 tháng trên vách đá để đục lỗ nổ mìn mở đường. Đây có thể coi là kỳ tích về tinh thần và sức mạnh khuất phục thiên nhiên của con người Việt Nam.

-Phố cổ Đồng Văn


Buổi sớm, bức tranh phố cổ là sự pha trộn đến tài tình hai tông màu – màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ. Phố cổ Đồng Văn nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc. Điểm đến cổ kính, trầm mặc những mang đậm sâu những nét văn hóa đặc sắc của miền đá Hà Giang, mà bất kỳ du khách đến đây đều không thể bỏ qua.

Thị trấn Đồng Văn (Hà Giang) nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc. Khu phố cổ vẻn vẹn 40 nóc nhà nằm xếp vào nhau dưới núi đá. Buổi sớm, bức tranh phố cổ là sự pha trộn đến tài tình hai tông màu – màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ.

Dãy phố dài gần 1km được hình thành cách đây gần một thế kỷ, với những nét kiến trúc đặc trưng của đồng bào vùng cao với nhà trình tường, mái ngói âm dương, nền lát đá… Phố cổ Đồng Văn cho đến nay vẫn còn hơn 40 ngôi nhà từ 100 đến gần 200 tuổi.

Từ năm 2006, huyện Đồng Văn đã chọn các đêm 14, 15, 16 âm lịch để làm “Đêm hội Phố Cổ”. Theo đó các hộ dân trong khu phố cổ đồng loạt treo đèn lồng đỏ, một số hoạt động như trưng bày thổ cẩm các dân tộc, trình diễn và bán các món ăn truyền thống của các dân tộc để tạo nét văn hóa độc đáo thu hút khách du lịch.

- Cột cờ Lũng Cú – nơi địa đầu Tổ quốc


Tổ quốc ta cong hình chữ S có bốn điểm cực đông, bắc, tây, nam, trong đó cực bắc thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Đến với Hà Giang, du khách không nên bỏ qua địa danh cột cờ Lũng Cú, nơi địa đầu Tổ quốc từ lâu đã trở thành hình ảnh thiêng liêng trong lòng mỗi người con đất Việt.

Cột cờ Lũng Cú là một cột cờ quốc gia nằm trên đỉnh Lũng Cú hay còn gọi là núi Rồng (Long Sơn), có tọa độ 23°21’49’’ vĩ bắc, 105°18’58’’ kinh đông, nơi điểm cực bắc Việt Nam (Thực tế theo số liệu địa lý đo đạc được, điểm cực bắc còn nằm cách khoảng 2km nữa, nhưng trước nay cột cờ Lũng Cú vẫn luôn tồn tại trong tâm thức người Việt như một biểu tượng thiêng liêng về chủ quyền quốc gia). Từ bãi đỗ xe giữa lưng chừng núi, du khách chinh phục 286 bậc đá lên độ cao 1700m, đặt chân lên đỉnh Lũng Cú, đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng phần phật tung bay.


“Lũng” trong tiếng H’mông là ngô, Lũng Cú là thung lũng ngô, sở dĩ có tên như vậy vì nơi đây có những cánh đồng lớn đều trồng ngô. Đây là cách giải thích đơn giản nhất, giản dị mộc mạc như tâm hồn của những người dân nơi đây. Nhưng có một cách giải thích khác mang màu sắc huyền thoại về ngọn núi Lũng Cú, hay còn gọi là núi Rồng, núi Long Cư, tức nơi rồng thiêng từng cư ngụ. Từ trên đỉnh Lũng Cú nhìn về phía tây có hai hồ nước, mặc dù ở độ cao chót vót này nhưng nguồn nước luôn trong xanh không bao giờ cạn, được người dân coi là “long nhãn” (mắt rồng). Tương truyền xưa kia, cư dân vùng này luôn thiếu nước sinh hoạt, điều đó đã làm cho rồng thiêng động lòng trắc ẩn nên trước khi bay về trời đã để lại đôi mắt cho dân làng, tạo thành hai hồ nước ngày nay.

Một cách giải thích khác, Lũng Cú đọc chệch tiếng Hán sang tiếng H’mông từ “Long Cổ”, tức trống của nhà vua. Lịch sử chép rằng sau khi đại phá quân Minh, vua Lê Lợi đã cho treo cái trống thật to ở trên núi (có sách còn chép ngay từ thời Lý, thái úy Lý Thường Kiệt đã cho dựng trống ở nơi đây), dùng tiếng trống ấy truyền tin về sự an nguy của vùng biên ải. Mỗi khi có nguy, tiếng trống lại dồn dập vang xa hàng mấy dặm, thức tỉnh lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền từng tấc đất tấc sông. Tiếng trống của cha ông khi xưa cũng như lá cờ đỏ sao vàng ngày nay là một biểu tượng thiêng liêng về chủ quyền đất nước.

Cột cờ Lũng Cú được xây dựng như ngày nay cũng trải qua nhiều mốc quan trọng. Những câu chuyện về lịch sử cột cờ cũng nhuốm màu sắc huyền sử thiêng liêng. Theo như truyền lại, cột cờ bắt đầu được xây dựng từ thời Lý, làm từ cây sa mộc cao trên 10 mét. Đến thời Pháp thuộc năm 1887, cột cờ được xây lại, rồi trải qua nhiều lần trùng tu với độ cao và kích thước khác nhau. Năm 1978, đồng chí phó chủ tịch UBND huyện Đồng Văn thấy lá cờ cắm lúc trước chưa đủ rộng để mọi người dân ở chân núi có thể nhìn thấy, đã nảy ra ý định xây cột cờ cao hơn, may lá cờ rộng hơn. Đến ngày 12/8/1978, lá cờ đỏ sao vàng rộng 54 mét vuông (chiều dài 9m, chiều rộng 6m) tượng trưng cho 54 dân tộc anh em trên khắp mọi miền tổ quốc đã chính thức tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú. Từ năm 2002 đến những năm về sau, cột cờ được trùng tu nhiều lần, ngày càng mở rộng về quy mô, kích thước. Theo thiết kế mới, cột cờ ngày nay chính thức được xây dựng với tổng chiều cao 33.15 mét, trong đó chân cột cao 20.25 mét, cán cờ cao 12.9 mét, đường kính ngoài chân cột rộng 3.8 mét. Cột cờ được thiết kế hình bát giác giống cột cờ Hà Nội, 8 mặt chân cột mô phỏng hoa văn trống đồng Đông Sơn và minh họa những thời kì lịch sử khác nhau của đất nước.

- Dinh thự Vua Mèo


Dinh thự độc đáo này được xây dựng trên vị trí quả đồi có hình mai rùa. Đây là “đại bản doanh”, dinh cơ đồ sộ vừa là nơi ở vừa là nơi làm việc của gia tộc họ Vương. Nhà Vương thuộc xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. “Dinh thự thuốc phiện” độc đáo nhất Việt Nam.

Nhà Vương tọa lạc trên khu đất có 700 cây sa mộc trăm tuổi bao quanh. Ngôi nhà của Vua Mèo được xây vào năm 1914, do một kíp thợ khoảng 200 người từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) sang làm, với chi phí quyết toán tới 15 vạn đồng bạc trắng. Phía trước dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn với những hàng cây sa mộc

Nhà Vương làm toàn bằng gỗ thông, ngói ống, đá xanh. Nhà chia 3 lớp: tiền sinh, trung sinh, hậu sinh. Giữa bốn dãy nhà gỗ hai tầng khép kín là một sân rộng.

Toàn bộ khu nhà được kết cấu gồm 64 gian phòng khác nhau gồm nhà khách, phòng làm việc, phòng ngủ cho các thành viên trong dòng họ, phòng ở của các gia nhân giúp việc và quân lính, nhà kho lương thực, kho vũ khí, đặc biệt có một kho riêng để chứa thuốc phiện.

Điều đặc biệt nhất trong ngôi nhà Vương là những kiến trúc và hoa văn hình loài hoa anh túc. Vì thế, có người còn gọi đây là “dinh thự thuốc phiện”.

Trong khu dinh thự họ Vương, tất cả các phiến đá kê cột nhà đều được tiện, gọt thành hình quả thuốc phiện. Sau khi mài nhẵn, chúng đều được dùng những đồng bạc trắng đánh cho bóng loáng, biến màu đá trắng thành màu đồng thau, gần như màu quả thuốc phiện đã phơi khô. Họa tiết trang trí trên đầu đao kèo nhà cũng được tiện hình quả thuốc phiện.

Đặc biệt là căn hầm được làm bằng những phiến đá xanh dày trên 60cm, được thiết kế để chứa thuốc phiện. Căn hầm được thiết kế nằm phía trái ngôi nhà, đối xứng với căn hầm chứa vàng bạc phía phải ngôi nhà.

Xa hoa nhất trong khu nhà Vương là chiếc bể tắm được đục đẽo công phu hình bán nguyệt từ nguyên một khối đá khổng lồ mà tương tuyền vốn là bể tắm sữa dê cho bà vợ thứ nhất của vua Mèo.


- Mùa hoa tam giác mạch


Những nương tam giác mạnh đẹp như tranh vẽ trải dài trên vùng cao nguyên đá Đồng Văn - tỉnh Hà Giang. Hoa hồng trắng li ti, cánh chụm lại thành hình chóp nón, có ba mặt tam giác, giữ ở giữa một hạt mạch quý. Những tay lá bé bỏng cũng mơ hồ ba góc xanh xanh.

Người dân bản địa thường lấy bột của quả tam giác mạch để làm bánh hoặc dùng hạt trộn với hạt ngô để nấu rượu tạo nên hương vị khá đặc biệt. Có nơi dùng để chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, do năng suất thấp hơn ngô và lúa nên diện tích không được mở rộng nhiều.

* Ẩm thực Hà Giang 


- Bánh tam giác mạch





Bánh tam giác mạch, chỉ riêng cái tên đã gợi bao xuyến xao, háo hức. Ngắm Sủng Là, Lũng Cú rạng rỡ trong mùa hoa, càng muốn được “nếm” thử cả một mùa tím hồng mê mải ấy. Bánh tam giác mạch được làm từ hạt, thứ mà ít người cất công lên tới Hà Giang để ý bởi mải say trong những cánh hoa muôn hồng nghìn tía.

banh tam giac mach pystravel006 Lạ miệng với bánh tam giác mạch Hà Giang
Thích thú với tấm bánh tam giác mạch xoe tròn tím một màu ngan ngát – Ảnh: sưu tầm.

Cuối mùa, người dân thu hoạch tam giác mạch, hạt của chúng được phơi khô, một phần dùng ủ tạo thành loại men hồng mi nổi tiếng, một phần có thể xay bột làm thành món bánh tôi đã bắt gặp ở chợ phiên.

Bánh tam giác mạch bây giờ hầu như chẳng mấy ai làm nữa. Tôi đi suốt chợ cũng chỉ bắt gặp duy nhất một hàng bày bán món bánh mơ mộng này. Một phần vì làm nó chẳng dễ, một phần vì giá bán chẳng đáng là bao so với công làm.

Hạt tam giác mạch bé xíu còn chưa bằng nửa hạt đậu đen, xay nhỏ thành thứ bột thật mịn. Bột nhào với nước thành hỗn hợp dẻo mềm rồi cho vào khuôn đúc thành từng tấm bánh tròn xoe. Tưởng dễ, nhưng hóa ra công đoạn xay bột lại rất vất vả.

Bột xay bằng tay, nếu không khéo bánh rất dễ bị lợn cợn, khó ăn. Hạt tam giác mạch phơi khô đến chừng nào cũng là bí quyết. Tấm bánh tôi đang ăn trong phiên chợ này được làm từ hạt tam giác mạch phơi khô độ một tuần dưới ánh nắng vàng óng ả của cao nguyên đá.

Bánh được hấp chín trên bếp lửa, khi đến tay người mua vẫn còn nguyên hơi ấm. Chỉ mười ngàn đồng một tấm bánh to chừng hai bàn tay người lớn. Người Mông đi chợ phiên thường mua bánh tam giác mạch để ăn cùng thắng cố, như cách họ ăn bánh ngô, bánh gạo hay xôi bảy màu.


-Cháo ẩu tấu



Lên Hà Giang những ngày gió lạnh hãy dùng chân bên những cửa hàng cháo ven đường, người chủ quán nhiệt tình và tốt bụng sẽ cho bạn thưởng thức tô cháo ấu tẩu ấm nóng, nó sẽ giúp bạn xua tan ngay cái giá lạnh trên cao nguyên đá…

Cháo ấu tẩu ở Hà Giang được làm từ nguyên liệu là củ ấu tẩu (còn có tên gọi ô đầu, phụ tử), một loại củ có chất độc cực mạnh thường mọc trên đá vùng đồi núi phía bắc. Bề ngoài giống củ ấu miền xuôi, nhưng bên trong lại khác hẳn bởi củ ấu tẩu rất cứng và độc. Chất độc của củ ấu tẩu có thể gây tử vong, song lại là một vị thuốc quý có tác dụng chữa bệnh. Qua cách chế biến tài tình của đồng bào dân tộc, củ ấu tẩu trở thành một món ăn mang hương vị đặc biệt và rất tốt cho sức khỏe.

Bản chất ấu tẩu rất độc, muốn khử hết chất độc và chế biến thành món ăn ngon phải có bí quyết riêng. Củ ấu được ngâm kĩ trong nước vo gạo đặc một đêm rồi đem hầm ít nhất trong vòng bốn tiếng cho tới khi mềm, bở tơi thành thứ bột đặc sền sệt. Gạo nếp cái hoa vàng trộn với gạo tẻ thơm, nấu nhuyễn trong nước hầm xương chân giò và bột củ ấu, thêm chút thịt nạc băm nhỏ, chút gia vị vừa đủ. Cuối cùng khi bắc ra đập trứng gà, cho thêm ớt, tiêu, hành, rau mùi, tía tô mới thành một bát cháo hoàn hảo.

Cháo nấu xong mang sắc nâu đậm, dậy lên mùi thơm đặc biệt, chưa ăn đã thấy ngon. Ăn kèm với các loại rau thơm hay măng chua, bát cháo là tổng hòa của các mùi vị: mùi thơm của nếp, vị ngọt của chân giò, vị béo ngậy của trứng, vị chua của măng cùng vị bùi hơi đắng của ấu tẩu. Một vị đắng dễ chịu tạo nên cảm giác lạ miệng cho thực khách, hơi ấm và hương vị lan tỏa, hương vị đặc biệt của bát cháo khiến người ta thật khó mà quên.


Cháo ấu tẩu không chỉ là một món ăn đơn thuần mà còn là vị thuốc bổ giải cảm. Người dân Hà Giang cho rằng, ngoài giúp bồi bổ xương cốt, xua tan mệt mỏi, cháo ấu tẩu còn có tác dụng tạo giấc ngủ ngon vào ban đêm. Có lẽ vậy mà cháo ở đây có cả bốn mùa nhưng thường chỉ bán vào buổi tối. Tối tối khi nhà nhà lên đèn cũng là lúc những hàng cháo ấu tẩu tấp nập khách ra vào. Đêm mùa đông lạnh, lang thang ở thị xã Hà Giang, còn gì thú vị và ấm áp hơn là được thưởng thức một tô cháo nóng hổi bốc khói, đậm đà hương vị miền núi đá Hà Giang.

-Rượu ngô ở Hà Giang



Rượu ngô ở Hà Giang được nấu từ ngô do chính người dân tộc ở đây trồng ra. Ngô được ủ với lọa men lá truyền thống nên khi uống rượu du khách sẽ thấy vị ngọt, thơm của ngô cùng vị cay cay nóng nóng của men. Rượu ngô có độ cồn không cao như những loại rượu gạo miền xuôi, trung bình khoảng 25 – 30 độ nên người uống rượu sẽ không quá lo bị say hay mệt.

Để có được những hạt ngô ngon to nhất để làm rượu ngô, người dân tộc Mông đã phải gùi đất đổ vào các hốc đá rồi tra từng hạt ngô vào đó để trồng. Bằng công lao vất vả để làm ra những chén rượu ngô ngọt du khách sẽ hiểu được giá trị cuộc sống ở nơi này. Mặc có sự cứng của đá, sự khắc nghiệt của thời tiết, người dân tộc đã gieo trồng lên nhiều nương ngô để cho sản lượng ngô lớn.

Ngô trồng được khoảng 4 tháng thì thu hoạch, hạt ngô lúc này đã chắc và vàng hạt. Người dân tộc bắt đầu bước vào giai đoạn thu hoạch, địu sau lưng cái quẩy tấu và nhét đầy bắp ngô cao ngất vào và mang về nhà. Những nương ngô của người Mông cách nhà tận 3 – 4 km, mà người ta cứ địu ngô nặng trên vai và mang bộ về nhà rất vất vả và nặng nhọc. Vượt qua những con dốc, đèo và đá nhọn với 30 – 40 kg ngô trên người. Để mang về những hạt ngô to nhất để làm món rượu ngô ngon.

Cực nhọc là vậy, nhưng người Mông Cao nguyên đá cũng không quên dành cho mình những giây phút được thả mình thư giãn. Và thế là việc nấu rượu ngô trở thành một thú vui không chỉ của đàn ông mà cả đàn bà, thanh niên cũng rất thích thú. Họ sử dụng những phần ngô không dùng hết cho vào ủ men nấu rượu để vừa uống, biếu khách và thậm chí có nhiều nhà làm ra được nhiều thì đem bán. Vào mỗi nhà trong bản, hầu như nhà nào cũng để dự trữ vài lít rượu ngô

-Thắng dền



Thắng dền là món bánh ăn chơi mùa đông, nên phải khi có gió lạnh tràn về thì người ta mới bắt đầu làm bánh. Thắng dền thoạt nhìn trông giống bánh trôi tàu ở Hà Nội, bánh cống phù ở Lạng Sơn, nhưng lại có cách chế biến và hương vị khác biệt, khiến du khách ăn thử một lần sẽ thấy ấm áp khó quên.


Làm thắng dền không khó nhưng trải qua nhiều công đoạn. Thứ gạo làm bánh là gạo nếp Yên Minh (loại gạo nếp ngon nhất tỉnh Hà Giang), hạt to tròn đều và dẻo thơm. Gạo được vo sạch rồi ngâm nước qua một đêm, hôm sau mang đi xay bột nước rồi đổ vào một chiếc túi vải, đợi đến khi túi bột nhỏ hết nước, bột đặc mịn mới đem ra làm bánh.

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 1 năm 2016

Du lịch Bắc Kạn

Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông bắc Việt Nam. Bắc Kạn là tỉnh giàu tiềm năng du lịch với các điểm như: Hồ Ba Bể, Thác Bạc, Hang Thắm Làng, căn cứ địa ATK, Tiên, Thác Đầu Đẳng …


-Địa điểm du lịch Bắc Kạn :

Khám Phá Hang Thắm Làng



Từ trung tâm xã Yên Hân (Chợ Mới), men theo con đường nhỏ chừng 2km, du khách sẽ tới thôn Nà Làng. Là một xóm nhỏ chỉ có 32 hộ, Nà Làng có những căn nhà sàn xinh xắn thấp thoáng bên vườn cây, chung quanh là rừng xanh bao bọc. Đứng từ xa, ai cũng nhìn thấy phía chân núi là một cây Chò nước đường kính khoảng 3m. Ngay gần gốc cây là cửa hang Thắm Làng - một hang động tự nhiên có vẻ đẹp cuốn hút.

Hang Thắm Làng có nhiều cửa thông lên trên đỉnh núi. Ông Hoàng Văn Bích - 52 tuổi, kể lại câu chuyện cách đây hơn 30 năm khi cùng hai người em trai khám phá hang động. Họ đi từ cửa hang trên đỉnh núi xuôi xuống, càng đi càng thấy hang dài và rộng, nhiều nhũ đá với hình thù đẹp mắt, lấp lánh dưới ánh đuốc. Quá mải mê, ba anh em không nhớ đường quay lại. Họ đành tiếp tục đi theo hướng chảy của dòng nước trong hang. Thật bất ngờ, sau hàng giờ đồng hồ họ đã thoát được ra ngoài bởi hang Thắm Làng có một cửa thông ra chân núi.

Để đi qua hang, người ta phải vượt qua một cửa nhỏ chỉ vừa thân người chui lọt. Trong ngày gió thổi đổi chiều từ trong ra hoặc từ ngoài vào tùy theo thời tiết, người dân đặt tên là “cửa gió”. Bên trong hang có mạch nước ngầm phun chảy thành suối, bốn mùa không hề cạn nước. Chẳng những có hang đá đẹp, trên núi Thắm Làng vẫn còn lưu giữ được hệ động, thực vật khá phong phú như: khỉ, sơn dương, gà rừng, chim công…

Rừng Thắm Làng còn nhiều loại gỗ quý như đinh, sến, táu, đặc biệt còn nhiều cây gỗ nghiến lâu năm. Được thiên nhiên ưu ái như vậy, nên từ xưa đã lưu truyền câu nói “Nà Làng gạo trắng nước trong, ai muốn ăn no tắm mát thì lên Nà Làng”. Từ đó, người dân trong vùng bắt đầu biết đến hang Thắm Làng như một cảnh đẹp thiên tạo và thường lui tới hang này để thăm thú.

Thác Bạc



Thác Bạc nằm ở địa bàn xã Hoàng Trĩ thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể. Từ đỉnh đèo Khau Vàng, nhìn về phía trung tâm xã Hoàng Trĩ, từ xa, Thác Bạc như một dải lụa trắng, là điểm du lịch lý tưởng cho những ngày hè oi bức.

Theo tài liệu của Vườn Quốc gia Ba Bể, thác có chiều cao khoảng 40m, có vách đá gần như thẳng đứng, ẩn trong màu xanh của rừng cây, phía dưới có các vũng nước trong vắt cùng với những hòn đá to, thoai thoải, du khách có thể tắm, hưởng thụ một không gian yên bình tại đây.

Dòng chảy của nước hiền hòa mà cuồn cuộn đổ xuống từ trên cao, đập mạnh vào những tảng đá dưới chân thác làm tung lên hàng ngàn bọt nước trắng xóa. Cảm giác được ngâm mình thư giãn trong dòng nước mát rượi, bao mệt nhọc sẽ tan biến, chỉ còn lại sự thư thái đầy sảng khoái. Thác Bạc mang vẻ đẹp của thiên nhiên hoang sơ thuần khiết. Ngắm thác bạc, du khách như được đi vào một không gian thiên nhiên mênh mông, dù đã được Vườn Quốc gia Ba Bể đưa vào khai thác du lịch nhưng không gian nơi đây vẫn còn rất hoang sơ.


Nước của con thác từ dòng suối đổ về, những khối đá chắn lại tạo thành những tầng bậc. Lúc thì dịu dàng lách qua những hòn đá để chảy về hạ nguồn, lúc thì tuôn trào dữ dội. Vào mùa mưa, nước từ trên cao đổ xuống tạo thành cuộn sóng lớn, không khí mát rượi, thiên nhiên thuần khiết, hiện nay thác được nhiều du khách tìm đến tham quan tắm mát trong những ngày hè.

Đứng ở dưới thác tầng một nhìn lên, bạn sẽ thấy thác đẹp như một bức tranh nhiều màu sắc, màu trắng trong tinh khiết của nước, màu tím, hung của đá, xen lẫn với màu xanh của cây rừng, tất cả sẽ làm bạn ấn tượng khó quên biết nhường nào. Nghỉ ngơi một lát, bạn đi tiếp đến điểm thác tầng 2 là điểm lý tưởng để thưởng thức dòng nước sạch trong mát và có thể dùng lực chảy của dòng nước để mát-xa đôi bàn chân sau chặng đường dài.

Đến Thác Bạc, bạn sẽ cảm nhận được sự hùng vĩ trong sự bình yên, hoang sơ của núi rừng, không khí trong lành, tinh khiết mà man mác hương hoa rừng, tất cả sẽ là những giây phút khó quên để một lần đến rồi lại muốn nhiều lần đến nữa.


Hồ Ba Bể


Trên chiếc xe ô tô đi từ thị xã Bắc Kạn đến với Ba Bể, nhìn qua khung cửa kính, tôi thầm trầm trồ với cảnh sắc trên đường đi. Những khúc quanh hiểm trở, vách núi cheo leo, mây lơ lửng giữa các triền núi e ấp ôm những bản làng xa xăm. Những khoảng ruộng xanh mơn man, gập ghềnh. Và đặc biệt nhất là rất nhiều hoa chuối cảnh ven đường, điểm thêm màu đỏ vàng tươi tắn. Đường lên với Ba Bể quá tuyệt vời để di chuyển bằng xe máy và tôi mong có một chuyến phượt cùng nhóm bạn lên đây. Dừng chân ở khu khách sạn ven cổng vào khu du lịch Ba Bể. Đoàn chúng tôi ăn uống và nhận phòng nghỉ ngơi sau một ngày ngồi trên ô tô lắc lư theo từng khúc cua quanh núi.

5h sáng, tôi cùng 2 anh trong nhóm đi bộ vào Hồ. Quãng đường hơn 3km vào buổi sáng sớm tinh mơ. Xung quanh tôi chỉ là một màu xanh cây cỏ, long lanh của những hạt sương mai còn đọng nhiều trên từng tán lá. Cây phủ trên đầu, rễ cây dăng dăng, không gian im ắng.

Hồ Ba Bể rộng lớn, ngút ngàn. Hồ men theo triền núi hay là núi quấn quanh lòng hồ? Những dãy núi nghiêng nghiêng như những nàng tiên phủ tóc mây che đi hình hài nguyên sơ của nó. Núi dang tay ôm lấy bản nhỏ vào lòng đầy âu yếm. Lạc vào Ba Bể, tôi lạc vào một màu xanh bất tận. Lạc vào một cõi như giao thoa giữa ảo giác và thực tại. Lạc vào một sự bình yên đầy quyến rũ.

Khác với các điểm du lịch khác, ở đây tôi không bị mời chào bởi những người bán hàng lưu niệm, tôi cũng không thấy nhiều những cửa hàng kinh doanh. Chỉ một vài quán nhỏ tập trung tại bến thuyền mà thôi. Và đây cũng là điều mà tôi phải phân vân khi muốn mua một món quà lưu niệm. Thực sự là bạn sẽ không tìm được một đồ vật gì để làm quà tặng mang hương sắc riêng của Hồ Ba Bể.

-Lễ hội ở Bắc Kạn:

Lễ hội tung kòn



Không biết trò chơi tung Còn có từ khi nào, chỉ nghe người già các dân tộc vùng Tây Bắc kể rằng: Đã từ lâu lắm rồi, trai gái xứ Thái đi làm ruộng, con trai nhổ mạ gánh đến ruộng để các “Nàng sao” (con gái) cấy, chàng nào thích ai thì ném (tung) mạ cho “Nàng sao” ấy, ai may mắn bắt được thì yêu. Từ ngày ấy, hội tung Còn không thể thiếu trong các dịp lễ tết.

Lần theo truyền thuyết ấy chúng tôi tìm về Lễ hội tung Còn miền Tây Bắc của Tổ quốc. Gần đến ngày Tết, các nam thanh nữ tú dân tộc Thái ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai… lại thi nhau thêu Còn, chuẩn bị tre (vầu) làm cột tung Còn. Ai cũng muốn có quả Còn đẹp nhất để đi tung trong ngày hội. Ngày hội tung Còn diễn ra trong không khí tưng bừng, náo nhiệt từ sáng Mồng Một Tết. Con trai, con gái lũ lượt từng đoàn trong những bộ quần áo sặc sỡ như rừng xuân đơm hoa khoe lá.

Sân tung Còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn cột Còn, ngọn cột buộc một “vòng Còn” hình tròn (khung Cong) đường kính 40cm, các cô gái trang trí khung Còn, một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng).

Các quả Còn với nhiều múi vải màu xanh, đỏ hình cầu to bằng nắm tay trẻ nhỏ, bên trong nhồi thóc và hạt bông (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả Còn có các tua vải nhiều màu trang trí và có tác dụng định hướng trong khi bay.

Mở đầu cuộc chơi là phần nghi lễ, thầy mo dâng hai quả Còn làm lễ giữa trời đất, cầu cho bản làng yên vui, mùa màng tươi tốt, nhà nhà no ấm. Sau phần nghi lễ, thầy mo cầm hai quả Còn đã được “ban phép” tung lên cho mọi người tranh cướp, khai cuộc chơi ném Còn năm đó. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây Còn, tung quả Còn lọt qua vòng Còn trên đỉnh cột là thắng cuộc.

Với người Việt cổ xưa, trò chơi này thường dành cho giới nữ, con nhà quý phái, xưa kia là các mỵ nương, con gái Lạc hầu, Lạc tướng. Đối với các dân tộc Mường, Tày, H’mông, Thái... tung Còn là trò tín ngưỡng hấp dẫn nhất của trai gái trong dịp hội xuân. Quả Còn tung lên mang ý nghĩa tượng trưng cho mệnh Mường bay lên rũ sạch chuyện buồn, việc dở, ốm đau đói rét của trần gian, để mọi người ấm no, hạnh phúc.

Các thiếu nữ tung Còn đứng về hai phía sân đối diện nhau để lần lượt thi ném quả Còn cho lọt qua chiếc vòng tre trên đỉnh ngọn cột cờ. Đám con gái mê nhất khi được tung Còn cho đám con trai. Các cô sơn nữ cầm rua dài nhất của quả Còn, đưa tay văng vọt lên. Quả Còn vút qua ngọn cột tre, những dây tua ngũ sắc cũng lướt xòe ra trông rất đẹp. Họ cảm nhận hương vị ngọt ngào của tình yêu qua hình ảnh quả Còn bay đi bay lại. Trái Còn văng đi, trái Còn đánh lại, những con mắt ngước theo đà của quả Còn và rất nhiều con tim hồi hộp khi trái Còn từ từ sắp lướt qua vòng tròn. Các chàng trai cô gái Thái vừa ném Còn, vừa ca hát những bài hát truyền thống của dân tộc mình:



...“Mấy khi thấy mùa xuân (hoa) ban đua nở,

Mấy khi thấy (quan) tạo lớn cúng Mường,

Phìa Mường (ngang chánh tổng) cúng bản,

Người người tung Còn lên rũ sầu,

Ai ai đều tung Còn lên rũ khỏi ốm đau...”.


Cuộc chơi thường kéo dài suốt mấy ngày hội và khi bóng chiều xuống dần, họ lại kéo nhau về nhà già làng, trưởng bản cùng nhau quây quần bên bếp lửa rực hồng, nâng chén rượu nồng chúc nhau năm mới khỏe mạnh, hạnh phúc, nhà nhà đầy thóc, đầy ngô, lợn gà đầy chuồng.

Tiếng Khèn H'Mông



Tiếng Khèn thấm vào máu thịt người Mông, thân quen như miếng “mèn mén” mẹ mớm từ lúc mới biết ăn dặm. Con trai 13, 15 tuổi đã có cây Khèn trên vai mỗi khi lên nương, xuống chợ. Âm thanh của Khèn mạnh mẽ như chính cuộc sống người Mông, bởi nếu không kiên cường mạnh mẽ, người Mông xưa kia chắc khó lòng đương đầu nổi với sự khắc nghiệt nơi núi cao, đá dựng. Ngày xưa, tổ tiên người Mông giỏi lắm, rất nhiều chàng trai vừa biết thổi khèn, vừa múa trên những chiếc cọc dựng sát gần nhau. Ở phía dưới dân làng đốt những đống lửa, ai không khéo, không giỏi, rơi xuống sẽ bị bỏng. Những chàng trai giỏi nhất luôn là mơ ước để các cô gái chọn lấy làm chồng.

Các chàng trai thổi khèn bước chân nghiêng ngả theo âm thanh trầm bổng, in bóng trên nền trời xanh, trên núi đồi ngút ngàn như một tuyệt tác thiên nhiên. Tiếng khèn vang dội vào núi, vang vọng vào bản làng, trên các nương rẫy trong những cuộc vui thâu đêm. Tiếng khèn là lời tỏ tình đôi lứa, là sợi nối tâm linh giữa người sống và người đã khuất.

Dù cuộc sống đã nhiều đổi thay, đâu đó ở những bản người Mông đã biết đến nhiều loại nhạc cụ hiện đại nhưng người Mông vẫn không bỏ chiếc khèn của dân tộc mình. Người già vẫn bảo: Tiếng khèn là phần hồn của người Mông, giữ tiếng khèn là giữ lấy bản sắc dân tộc mình. Con trai Mông khi lớn lên là phải biết thổi khèn. Thổi khèn hay, múa khèn dẻo luôn nhận được sự quý mến, nể phục của nhiều người.

Hát quan làng 


Hát quan làng hay còn gọi là hát thơ lẩu. Là một phong tục đẹp trong đám cưới truyền thống của người Tày, với hệ thống các bài thơ, bài hát có thể kéo dài tới hàng ngàn câu, hàng trăm bài, chia thành các phần cụ thể. Nội dung của các bài hát là cách chỉ bảo, lối ứng xử tinh tế, tao nhã của con người trong đời sống.

Ngoài ra, trong đám cưới, lời hát thay cho lời chào xã giao lịch sự, thể hiện tình cảm trân trọng nhau. Để tổ chức đám cưới, nhà trai mời một người đàn ông nhanh nhẹn trong ứng khẩu, am hiểu phong tục nhất để làm quan làng. Khi thực hiện các nghi lễ để đón rước dâu, người quan làng đều phải hát để nhà gái nghe thuận tai và cho công việc được thực hiện đúng trình tự.
Nhà gái cũng sẽ đáp lại để tạo không khí vui vẻ, trầm bổng với những sắc màu, giai điệu mang đậm nét văn hóa vùng miền. Xét về mặt văn hóa, ngôn ngữ và tri thức ứng xử thì quan làng phải là người thông minh, khéo ứng xử, giàu tri thức và am hiểu phong tục tập quán của tộc người. Vì vậy, trước khi thực hiện đám cưới, nhà trai hết sức cẩn trọng trong việc tìm quan làng để đón dâu, nhà gái cũng hết sức cẩn trọng trong việc lựa chọn Pả mẻ để đưa con gái mình về nhà chồng.

Theo ông Hoàng Văn Lỷ, thôn Cốc Xá, xã Hà Vị, huyện Bạch Thông cho biết: Hát quan làng có tới 360 bài, mỗi bài ít nhất 40 câu. Trước đây, trong đám cưới của người Tày xã Hà Vị, hát quan làng diễn ra một ngày một đêm với hàng nghìn câu hát đối đáp nhau.

Có nhiều đám cưới trở thành đám thi hát. Hát trôi chảy thì được “cắt dây”, “vào cổng”, “lên nhà” có chiếu ngồi. Nếu không hát được thì phải chờ đợi phạt uống rượu thay lời hát. Hai họ vừa là công chúng thưởng thức vừa là người xét thưởng, xét phạt.

-Ẩm thực Bắc Kạn:

Bánh Pẻng phạ


Bánh pẻng phạ thường xuất hiện trong dịp người Tày vùng Ba Bể đón mừng năm mới hay lễ hội xuống đồng. Hình dáng chiếc bánh không có gì đặc biệt, viên bánh tròn tròn cỡ trái nhãn lồng.

Bên ngoài có lớp bột trắng che lớp bột nâu bên trong. Bánh pẻng phạ là một trong những món ăn truyền thống của dân tộc Tày để dâng trời đất.

Bánh pẻng phạ chế biến không cầu kỳ nhưng mùi vị thơm ngon. Nguyên liệu chính để làm bánh là bột gạo nếp được nhào với nước chè mạn pha đặc để lấy màu nâu và vị chát, một chút rượu trắng cho dậy mùi.

Lạp sườn hun khói



Lạp sườn được làm từ thịt lợn bản nên thịt thơm và chắc. Điểm độc đáo của lạp sườn Bắc Kạn là được tẩm ướp bằng gừng đá, một loại gừng chỉ mọc trên đá của người dân tộc nên có mùi thơm rất đặc biệt, không giống gia vị nào của miền xuôi.

Lạp sườn được làm bằng tay của người Bắc Kạn có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mắc mật, thơm một cách đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Nhấp thêm chút rượu nữa thì càng khoái khẩu.

Rau bồ khai (rau dạ hiến)



Rau bồ khai (bò khai) thường mọc trên những vùng núi đá cheo leo, ngọn rau giống như cây tầm gửi, thân bám vào những cây gỗ lớn để vươn lên đón lấy cái trong trẻo của ánh sáng và khí trời. Ngọn rau thoạt nhìn giống ngọn mướp hương nhưng mảnh mai hơn và có màu xanh non tơ như lá cành mới nhú. Khoảng mùa xuân, bồ khai bắt đầu trổ ngọn xanh tốt. Người dân trong vùng đã quen với mùa đi hái bồ khai. Vào dịp này, ở khắp các phiên chợ vùng cao nơi đây đều có bày bán rau bồ khai.

Bồ khai mang về chẳng phải chế biến cầu kì gì nhiều, chỉ cần nhặt sạch, phi tỏi thơm trên bếp rồi đổ rau vào xào to lửa là đã có một món ăn hấp dẫn. Bồ khai còn được dùng làm phở, mì xào hay xào lẫn với thịt bò. Rau bồ khai có một mùi vị rất riêng, không thể tìm được sự tương đồng ở bất cứ loại mùi vị nào khác.

Mứt mận



Món mứt mận ở Bắc Kạn được người dân coi là đặc sản. Vì nó có những hương vị đặc trưng riêng và rất hấp dẫn. Hầu như người dân Bắc Kạn đi đâu xa đều mang món mứt mận để làm quà biếu và giới thiệu sản phẩm của quê hương mình.

Cá nướng Ba Bể



Cá trong hồ Ba Bể có rất nhiều, thường được người dân đánh bắt thủ công, số lượng cá không nhiều nhưng chất lượng thì tuyệt vời vì thịt cá trắng, chắc và có vị ngọt. Người ta chọn lấy loại cá chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, loại cá này vừa giống như cá bống, vừa giống con cá nẹp ở xuôi để làm món cá nướng.

Không gì khoái bằng ngồi bên bờ hồ Ba Bể, nhâm nhi đĩa cá nướng chấm tương ớt với vài chén rượu ngô. Vị cá thơm lừng, thịt cá bùi và dai. Rượu ngô cay cay nhưng vẫn có vị ngọt đâu đây nơi cuống lưỡi. Cùng ngắm cảnh hồ Ba Bể, thần tiên và thăng hoa hơn bất cứ mâm cao cỗ đầy nào khác.

Thứ Năm, ngày 07 tháng 1 năm 2016

Du lịch Hoà Bình

Hòa Bình là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam cách thủ đô Hà Nội khoảng 60km, giáp ranh với các tỉnh Phú Thọ, Hà Nam, Ninh Bình, Sơn La và Thanh Hóa. Đây là vùng đất được coi là cái nôi của nền văn hóa Mường với vô vàn điều kỳ lạ chưa được khám phá.



* Địa điểm du lịch ở Hoà Bình

Chùa Tiên

Chùa Tiên – Mẫu Đầm Đa (hay còn được người dân gọi là Chùa Tiên – Đầm Đa) là một ngôi chùa thuộc địa phận xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Chùa được Bộ văn hóa – Thông tin Việt Nam cấp bằng di tích lịch sử văn hóa tháng 9 năm 1989. Khu Du lịch Chùa Tiên – Đầm Đa là một quần thể du lịch bao gồm nhiều hang động, đền chùa tuyệt đẹp, nằm bên kia sườn dãy núi Hương Sơn Chùa Hương. Ngoài ra quần thể danh thắng Chùa Tiên là di chỉ khảo cổ học cấp quốc gia.

Lễ hội chính của chùa Tiên được tổ chức vào 3 ngày: 4 – 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Tư âm lịch. Mỗi năm lễ hội lại được tổ chức quy mô hơn, đông vui hơn, du khách bốn phương tìm về nhiều hơn. Gọi là lễ hội Chùa Tiên, nhưng đây là lễ hội chung cho cả khu di tích mà địa điểm chính được đặt ở Chùa Tiên.


Đến với lễ hội Chùa Tiên, du khách sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vừa vật thể, vừa phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ truyền thuyết đi ra, như từ dã sử xuất hiện, vừa lạ vừa quen, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa bình dị vừa thiêng liêng. Những chiếc kiệu Thành hoàng làng là trung tâm của đám rước, được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Chiếc kiệu được rước trên những đôi vai của niềm tin, của lòng thành kính và của những ước mong. Kiệu Thành hoàng có thể đi, có thể chạy, có thể bay khi có niềm tin và niền tin vào sự linh thiêng được tăng lên.

Cùng với đám rước, là những nghi thức tế lễ: có dâng rượu dâng hương, có đọc sắc phong của triều vua xưa phong cho các vị Thành hoàng trong khu di tích, có dâng chúc văn cầu mong thần linh ban tặng mưa thuận gió hoà, nhà nhà an khang, xóm làng thịnh vượng… Đó là những nghi thức đã trở thành truyền thống để tôn vinh các vị thần Thành hoàng làng – những người đã vì nước vì dân được tôn thờ.

Chùa Tiên toạ lạc dưới chân núi Tung Sê trên một khu đất khá bằng phẳng có mặt tiền quay về hướng Đông Bắc. Theo truyền thuyết, Chùa Tiên được xây dựng từ rất xa xưa theo lối kiến trúc nhà sàn với nguyên vật liệu là tranh tre nứa lá. Trải qua năm tháng, ngôi chùa đã bị xuống cấp. Năm 1998, bằng nguồn vốn trùng tu tôn tạo di tích của Bộ Văn hoá Thông tin và sự đóng góp của chính quyền và nhân dân trong xã, ngôi chùa đã được trùng tu tôn tạo khang trang như ngày nay. Đến dâng hương tại Chùa Tiên, du khách sẽ có dịp được bày tỏ lòng thành kính lên các đức Phật các ước mong của mình.Phía sau Chùa Tiên ngay trong dãy núi Tung Sê, du khách sẽ được tới thăm danh thắng Động Tiên với nhiều điều kỳ thú. Đây là di tích khảo cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng cấp quốc gia năm 1989.

Bên cạnh giá trị khảo cổ, động Tiên còn là di tích có giá trị thẩm mỹ cao. Đi sâu vào bên trong, ta sẽ bắt gặp không gian đầy huyền thoại. Ngẩng đầu lên ta bắt gặp một vòm trần lô nhô, đông đúc căng chật hàng trăm, hàng ngàn khối nhũ đá rủ xuống. Chỗ thì vàng óng toả ra như một rừng hoa, chỗ thì trắng xoá, bầu thon như những viên ngọc; chỗ thì rực rỡ như một căn phòng với các chùm đèn trang trí. Các khối nhũ đá được chạm chổ tinh tế những hình thù kỳ lạ, bí ẩn, đường nét uyển chuyển, mềm mại và khá cân đối.


Nét đặc biệt ở động Tiên là quần thể các cột đá mọc lên từ nền hang, giữa phòng là một khối nhũ lớn, xung quanh là bạt ngàn các cột nhũ nhỏ như hội quần tiên ở rừng thệ đà đông đúc các vị La Hán, các Bồ Tát, các thanh văn quây quần bên nhau nghe đức Phật Như Lai giảng kinh. Tất cả đều lặng lẽ trang nghiêm, không xô bồ ồn ã. Không gian cũng tĩng mịch u huyền càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm. Và du khách càng ngắm, càng ngỡ như được đắm chìm vào tiên cảnh ấy. Và con người như được cảm thấy thanh cao hơn.

Lũng Vân


Nằm cách trung tâm thành phố Hòa Bình khoảng 40km, Lũng Vân (huyện Tân Lạc) là một trong bốn cái nôi văn hóa lớn và cổ xưa nhất ở xứ Mường Hòa Bình. Với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, hùng vỹ cùng nét văn hóa đặc trưng, Lũng Vân đang là điểm đến của không ít người đam mê du lịch phượt. Được coi là “nóc nhà xứ Mường Bi”, bởi đó là vùng đất sinh sống cao nhất của người dân tộc Mường, đồng thời cũng là nơi chứa đựng rất nhiều câu chuyện đã đi vào huyền thoại.

Lũng Vân gồm những ngọn núi cao hùng vĩ điệp trùng thấp thoáng trong mây, với những con đường nhỏ nhưng dốc cao và vô cùng hiểm trở…Chính vì những điều kiện thiên nhiên và địa hình đó, nơi đây đã từng là điểm đến của một số nhóm phượt và off-road muốn trốn tránh sự ồn ào thành thị để tìm cho mình những giây phút trải nghiệm trong một không gian thiên nhiên tĩnh lặng.

Nằm ở độ cao 1200m so với mặt nước biển, nơi đây quanh năm mây mù bao phủ nên còn có tên gọi Thung Mây. Thung lũng được bao bọc bởi núi Trâu, núi Pó, núi Tiên, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình vào khoảng 20 – 23,3ºC. Cái tên Lũng Vân hẳn còn xa lạ với nhiều người. Một phần bởi nó nằm sâu bên trục đường Hòa Bình – Mộc Châu, đường tới Lũng Vân lại vô cùng hiểm trở với những đèo dốc liên tiếp dài 13km. Bởi thế, cũng dễ hiểu khi ít người biết về Lũng Vân.

Theo truyền thuyết được ghi lại trong áng mo “Đẻ đất, đẻ nước” của người Mường thì đã lâu lắm rồi, chẳng ai còn nhớ được, giữa chốn núi non hiểm trở đã xảy ra một cơn đại Hồng thuỷ. Nó bất thần đổ ập xuống trong một đêm mưa gió bão bùng. Dòng nước cuộn xiết đã cuốn trôi hết nhà cửa, trâu bò, con người và cả núi rừng. Giữa cuộc tan tác ấy, có đôi vợ chồng bấu víu được trên chiếc bè. Cứ thế, chiếc bè chìm nổi trong sóng dữ hết ngày này sang này khác cho đến khi vướng vào một cây cổ thụ khổng lồ có tên là Bi, rễ cây ăn xuyên qua “chín sông, mười núi” bền chắc đến nỗi cơn đại Hồng thuỷ kia không thể làm bật gốc. Khi cơn Hồng thuỷ rút đi, đôi vợ chồng nọ cũng không biết quê xứ của mình ở đâu để trở về. Bởi sau cơn Hồng thuỷ, mặt đất như trở lại thời hỗn mang, mọi thứ đều tan tác hoặc bị cuốn trôi. Không biết đi đâu, họ ở lại dựng nhà dưới gốc cây Bi, sinh con đẻ cái, phát rừng làm nương, cày cuốc sườn đồi thành ruộng bậc thang, làm Cọn lấy nước, thuần phục muông thú thành vật nuôi, lập bản, lập mường. Nhớ ơn cây thần cứu mạng, họ đã lấy tên cây đặt tên cho mường. Đó là vùng Mường Bi ngày nay – một mường lớn và trù phú nhất trong 4 mường Bi – Vang – Thàng – Động của xứ Mường Hoà Bình. Cái tên Lũng Vân, có lẽ được bắt nguồn từ điểm đặc trưng của một thung lũng với bốn bề là núi cao dựng, nối nhau trùng điệp quanh năm chờn vờn mây phủ. Xưa, Lũng Vân còn có tên là Mường Chậm. Theo những người dân thì chữ Chậm ở đây không phải là sự nhanh, chậm theo nghĩa thông thường. Nhưng trong tiếng Mường nó cũng chẳng thể hiện ý nghĩa gì. Nguồn gốc xa xưa của địa danh này cũng chẳng mấy ai rõ. Chỉ biết rằng truyền thuyết tạo nên xứ Mường trong mây này là một câu chuyện buồn của một cuộc trốn chạy quan Lang của một gia đình nghèo còn được ghi trong trí nhớ của một lớp người xưa cũ như một câu truyện truyền thuyết đời nối đời.


Với những tiềm năng sẵn có, Lũng Vân hiện đang là một điểm thu hút khách du lịch. Đến Lũng Vân đẹp nhất vào thời điểm sau tết đến tháng Tư hàng năm, đó là lúc có nhiều mây bao phủ nhất. Mây bắt đầu từ chiều tối và đến sáng sớm hôm sau tan dần, đến giữa trưa thì trời quang hẳn. Đến Lũng Vân, du khách có thể tham quan, nghỉ đêm tại nhà sàn của người Mường, cùng làm những công việc hàng ngày với người dân hay tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng… Chợ Lũng Vân nằm ngay trung tâm xã, họp mỗi tuần một lần vào ngày thứ 3, du khách có thể đến đây để tìm hiểu những màu sắc văn hóa của dân tộc Mường.


Khu du lịch suối khoáng Kim Bôi

Khu du lịch Suối khoáng Kim Bôi độc đáo hấp dẫn bởi nguồn nước khoáng từ ngàn xưa trong vắt, không mùi, vô khuẩn, khi vừa lộ thiên nhiệt độ 34 -> 36oC, thành phần chính là Bicacbonat Sunphat Canxi – Magie, thuộc loại nước khoáng giải khát chữa bệnh có lợi cho sức khoẻ con người.

Theo các nhà khoa học, nước khoáng Kim Bôi được xuất lộ ra từ vỉa đá vôi có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm, khi lộ thiên nước có nhiệt độ 34-36 độ C, được đánh giá là suối khoáng có thành phần hóa học ổn định nhất. Qua kiểm nghiệm, nguồn nước khoáng Kim Bôi là điều kiện lý tưởng để phục hồi sức khỏe, giúp chữa các bệnh viêm khớp, đường ruột, dạ dày, huyết áp… Nước suối Kim Bôi đã được đóng chai làm nước giải khát, nó cùng loại với nước khoáng Thạch Bích ở Quảng Ngãi, Kum-dua ở Nga và Paven Banis ở Bulgaria.

Đến đây, du khách có thể nghỉ ngơi và tận hưởng nguồn suối nóng tuyệt vời tại khu du lịch suối khoáng Kim Bôi, khách sạn Công đoàn, Vresort, hoặc các khu nhà nghỉ. Nguồn khoáng nóng phun lên từ độ sâu 175,5 m và được bơm dẫn trực tiếp vào các bể tắm phục vụ du khách. Nhiều người ưa dân dã, lựa chọn những khu nhà nghỉ để gần gũi với thiên nhiên, hơn nữa có thể vừa đắm mình thư giãn, lại vừa có thể nghe tiếng nước phun lên ào ào vô tận từ dưới lòng đất.


Bản du lịch Giang Mỗ (xã Bình Thanh)

Cách thành phố Hòa Bình 10km theo trục đường đường Tây Tiến của thành phố Hòa Bình, bản Giang Mỗ gồm hơn 100 nóc nhà sàn nằm bình yên trong một thung lũng nhỏ dưới chân núi Mỗ, thuộc xã Bình Thanh, huyện Cao Phong. Với bản sắc văn hóa bản địa vật thể và phi vật thể đậm nét truyền thống đặc trưng của người dân tộc Mường vẫn được lưu giữ, bảo tồn nguyên vẹn, từ lâu nơi đây đã được du khách trong và ngoài nước biết đến là một điểm nhấn của du lịch văn hoá cộng đồng nổi bật nơi đất Mường Hòa Bình. Sự đặc biệt luôn hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách tới bản Mỗ chính bởi đây là một bản Mường, những đặc trưng truyền thống trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, phong tục, văn hóa của người dân nơi đây vẫn được gìn giữ, bảo tồn và phát huy; đặc biệt là những nếp nhà sàn Mường cổ được xây dựng theo kiểu con rùa (nhà rùa) vẫn giữ được vẹn nguyên những nét mộc mạc đơn sơ – một kiểu kiến trúc cổ truyền rất khác biệt so với kiểu nhà của các dân tộc khác như Thái, Tày, Dao, Mông…

* Ẩm thực Hoà Bình 

Chả cuốn lá bưởi



Có lẽ chỉ ở Hòa Bình mới có món này. Thịt lợn ba chỉ sau khi sơ chế không băm nhỏ như các loại chả khác, và cũng không ướp quá nhiều loại gia vị. Người ta chỉ thái con chì vừa ăn rồi bỏ chút mắm, hành vào, sau đó cuốn lá bưởi ở ngoài và cho vào kẹp, nướng trên than hồng.

Người ăn còn ngửi thấy rõ mùi thơm của thịt quyện với dầu từ lá bưởi. Do được nướng nên thịt không ngấy nhiều, ngược lại, còn săn và đậm ngọt.

Ngoài ra, lá bưởi cháy cháy, giòn giòn cũng tạo thêm vị cho món chả này. Nuốt miếng chả xong còn thấy tê tê đầu lưỡi, không hẳn là cay, không gây khó chịu mà ngược lại, khó quên vô cùng


Cơm Lam Hoà Bình



Khi về Hòa Bình, về với miền phong thuỷ hữu tình này thực khách có thể được biết tới một lối sống độc đáo của người Mường và cũng được hoà mình vào nền văn hoá ẩm thực vô cùng phong phú của con người nơi đây. Những sản vật của núi rừng luôn làm hài lòng những vị khách khó tính nhất, những món ăn rất dân dã thôn quê nhưng để lại những ấn tượng rất khó quên cho những ai đã từng thưởng thức như món gà đồi nướng, cá sông, măng chua, rượu cần… nhưng thế vẫn chưa đủ, khi về Hoà Bình thì phải được nếm hương vị của cơm lam thì mới có cảm nhận được hương vị của miền sơn cước này.

Không biết món cơm độc đáo này ra đời từ bao giờ, nhưng chỉ biết rằng người dân miền núi thường phải đi rừng rất vất vả, nhọc nhằn có khi đi từ lúc sáng sớm tinh mơ cho tới lúc tối mịt hoặc thậm chí phải ngủ lại trong rừng. Nên họ mang theo một chút gạo để khi đói sẽ chặt lấy ống tre, ống nứa bên đường, bỏ chút gạo và chút nước suối để nướng những ống cơm ăn qua bữa, từ những thói quen từ ngàn xưa để lại, một thói quen rất bình dân, dễ làm thế mà không ngờ nay đã được tôn lên thành một món ăn đặc sản của núi rừng – món cơm lam. Món cơm lam có rất ở nhiều nơi từ người Tày, nguời Thái, người Nùng, người Mường… đều có loại cơm này. Tuy nhiên, Hoà Bình là nổi tiếng hơn cả vì nơi đây có loại gạo nương thơm lại dẻo nổi tiếng

Ngày nay, cách làm cơm lam đã có đôi chút khác so với trước, con người không làm cơm lam để “cho qua bữa” nữa mà cơm lam đã trở thành một sản phẩm du lịch để người ta ăn “chơi” . Tuy nhiên, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra giá trị truyền thống của món ăn độc đáo này, nó vẫn mang đầy đủ dáng dấp của một nền văn hoá bản địa. Để thêm phần phong phú thì cơm lam có thể ăn chung cùng với thịt gà, thịt nước, măng chua…nhưng ngon nhất vẫn là cơm lam chấm muối vừng . Ống cơm lam của người Hoà Bình thường nhỏ hơn và có mùi vị khác với Cơm Lam của các dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi như Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn…Tuy cơm lam Hoà Bình không có hạt Lạc, hạt đậu trong đó nhưng đựoc thay bằng mùi thơm đặc trưng của dừa và nước cốt dừa, mùi của mía, của lá rừng Hoà Bình.

Đã bao đời nay, cơm lam hiện hữu trong đời sống người Mường và cũng chẳng ai biết rằng từ ngàn đời xưa ai là người đã nghĩ ra việc dùng ống nứa thay cho cái nồi,  cái niêu… chỉ là một món ăn của núi rừng, cũng chỉ là một thứ đặc sản khi về xuôi những người khách hay mua làm quà và cũng chỉ là một phần của văn hoá ẩm thực của người Mường mà sao khiến những con người đã từng đến Hoà Bình và trót yêu mảnh đất này khó quên đến thế.


Cá sông Đà nướng đồ



Vùng lòng hồ sông Đà chứa trong nó rất nhiều loại cá nước ngọt ngon lành. Nào là trắm, chép, lăng, nheo… có thể làm ra hàng chục món khác nhau. Trong đó, không thể không kể đến món cá nướng đồ.

Từng con cá tươi roi rói từ sông lên được thọc các que nhỏ, dài từ miệng xuống đuôi. Sau đó, cá còn được kẹp bằng tre ở ngoài để không bị gãy, rơi khi chín. Tiếp đó, từng xiên cá ấy được đưa lên bếp nướng thơm.

Cá nướng dù đã ngon nhưng không ăn ngay mà được cho thêm muối, gói vào lá chuối rồi đồ lên. Khi cá được mang ra, mùi thơm rất đặc biệt, không chỉ là mùi của than ấm, mùi của thịt cá ngọt tươi mà còn thoang thoảng hương chuối, hương tre của rừng và đậm đà vị mặn mà đơn sơ của muối.

Thịt lợn muối chua



Dường như thịt lợn ở Hòa Bình luôn có cách chế biến độc đáo. Cũng vẫn là lợn, nhưng thịt lợn muối chua lại cho ta cảm giác thưởng thức cả cây cỏ và vị rừng do cách làm khá độc đáo.

Lá chuối rừng hơ lên trên lửa, lót vào đáy bồ làm bằng tre, nứa,rải một lớp gạo rang nhỏ trộn với muối rang sau đó xếp thịt lợn lên, cứ một lần xếp thịt lại rải một lần gạo rang với muối.

Thịt lợn không phải cứ thế cho vào mà phải được ướp với men lá rừng cùng gạo rang giã nhỏ khoảng 1 tiếng. Sau đó, người ta đậy kín nắp bồ bằng lá chuối và để bồ thịt muối ở quang bếp củi hoặc trên gác bếp đun củi.


Món này khi ăn nghe vị chua chua nhẹ nhẹ do men lá, thịt còn ngậy, dai, mặn vừa và thơm gạo quyện vào. Thịt lợn muối chua - món ngon Hòa Bình thường ăn kèm với các loại lá rừng của riêng đất này.

Thứ Tư, ngày 06 tháng 1 năm 2016

Du lịch Cao Bằng

Cao Bằng Là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc của Việt Nam, với khi hậu mát mẻ quanh năm, có núi, rừng, sông suối trải dài hùng vĩ, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, cùng với những tháng năm lịch sử đã tạo cho Cao Bằng những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.

* Địa danh du lịch:

Di tích lịch sử Pác Pó




Nằm trên địa bàn xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, cụm di tích là địa điểm từng gắn với hoạt động của Bác trong giai đoạn đầu trở về Tổ quốc lãnh đạo Cách mạng (1941 – 1945).
Đầu năm 1941 Bác Hồ cùng một số đồng chí đã vượt qua biên giới giữa Việt Nam – Trung Quốc ở cột mốc 108 để về nước và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Ban đầu Bác Hồ nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng, sau đó để đảm bảo sự an toàn và bí mật Bác đã quyết định chuyển vào hang Cốc Bó, hang Lũng Lạn và lán Khuổi Nặm. Tại nơi đây đã diễn ra rất nhiều sự kiên quan trọng của Đảng và Nhà Nước.


Động Ngườm Ngao

Cách thác Bản Giốc khoảng 3km, Động Ngườm Ngao được xếp vào những hang động đẹp nhất nước bởi hệ thống nhũ đá và măng đá đã tạo nên những khung cảnh thật sinh động, kì thú khiến con người phải thán phục, kinh ngạc.
Tổng chiều dài của động khoảng 2.144m gồm có 03 cửa chính: Ngườm Ngao, Ngườm Lồm, Ngườm Bản Thuôn. Nhiệt độ trong động từ 18 đến 25 độ C, mùa hè cho cảm giác mát mẻ, còn mùa đông ấm áp. Quả thực Ngườm Ngao là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Cao Bằng.

Theo tương truyền, xưa kia trong động có rất nhiều hổ dữ sinh sống nên người dân tộc Tày mới đặt tên động là: Ngườm Ngao có nghĩa là: Động Hổ. Tuy nhiên có thuyết cho rằng những tiếng gầm rú được phát ra nhờ tiếng suối nước chảy trong động tạo lên nghe giống tiếng gầm của hổ dữ vì vậy người dân đặt tên động là Ngườm Ngao.
Khi đến đây du khách sẽ bắt gặp rất nhiều hình ảnh kì thú giống như cây tơ hồng, bầu sữa mẹ, con cóc thần, cây đàn đá… Và càng không thể bỏ qua những điểm nhấn nổi bật nhất của Ngườm Ngao là cây san hô và con tàu, thác vàng, thác bạc, đài sen úp ngược, cột đá cô đơn. Tất cả những cảnh vật trên đều do thiên nhiên tạo ra từ nhũ và măng đá vôi, không hề có sự can thiệp sắp đặt của con người nhưng chúng hiện lên vô cùng sinh động, quyến rũ. Ngườm Ngao đúng là một món quà thiên nhiên vô giá mà tạo hóa ban cho người dân nơi đây.

Hồ Thăng Hen

Hồ Thăng Hen thuộc địa phận huyện Trà Lĩnh. Hồ nằm giữa một vùng núi đá ở độ cao 800 -1000m so với mặt biển và trên 500m so với địa hình nhưng không bao giờ cạn nước kể cả mùa khô.

Quần thể Hồ Thăng Hen có 36 hồ tự nhiên mỗi hồ cách xa nhau vài chục hoặc vài trăm mét các hồ đều có bờ ngăn riêng nhưng được thông với nhau bởi các hang động ngầm dưới lòng đất, 36 hồ nước ngọt tự nhiên này nằm trong một thung lũng rộng lớn tiếp giáp với xã Quốc Toản, Trà Lĩnh và xã Ngũ Lão, Hòa An. Những tên hồ được đặt tên theo tiếng địa phương như: Thang Vạt, Nà Ma, Thang Loong, Thang Hôi có từ hàng trăm năm nay. Trong quần thể đó Thăng Hen là hồ lơn nhất với chiều dài 2000m, chiều rộng 50m được bao quanh bởi những cánh rừng già, xen lẫn những mỏm đá tai mèo. Theo tiếng Tày Thăng Hen có nghĩa là “đuôi ong”, nhìn từ trên cao du khách sẽ liên tưởng hình dáng của hồ như đuôi con ong, trong lòng hồ có hơn 100 loại cá, tôm lớn nhỏ khác nhau tạo thành một lượng thủy sản phong phú.

Thác Bản Giốc





Cách trung tâm huyện lị Trùng Khánh khoảng 20km về phía đông bắc là Thác Bản Giốc, là biên giới tự nhiên của Việt Nam và Trung Quốc. Với độ rộng khoảng 208m và chiều cao khoản 60 – 70m thì Thác Bản Giốc được xếp vào thác nằm trên đường biên giới lớn thứ tư thế giới.

Thác Bản Giốc được xem là một trong những tặng vật vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Cao Bằng. Đó là một thác nước cao, hùng vĩ và đẹp vào bậc nhất của Việt Nam. Sau dòng thác là dòng sông Quây Sơn nước trong xanh. Bờ sông với cảnh quan đẹp nên thơ, trong lành với thảm cỏ, rừng núi xanh ngắt, mây trắng bồng bềnh. Bên kia sông là nước láng giềng Trung Quốc.

* Ẩm thực Cao Bằng :

Cá chiên sông Ngâm



Cao Bằng còn một đặc sản thuộc loại nổi tiếng, đó là con cá chiên sông Gâm. Loại cá lăng màu đen này vốn được một ông chủ quán chả cá Lã Vọng đánh giá là ngon nhất để làm chả cá. Lòng cá được người sành ăn cho là thứ ngon nhất trên đời.

Cá chiên có con đến vài chục kg, là loại khó bắt vì chuyên sống trong hang ngầm dưới sông. Người đi câu thường đóng cả lán trại thường xuyên để đợi cá, đến khi câu được con nào là có người đến tận chỗ mua.


Bò gác bếp



Cao Bằng là nơi nuôi nhiều bò, tập trung nhiều nhất là các huyện Hà Quảng, Bảo Lạc, Bảo Lâm. Bò gác bếp Cao Bằng được tẩm ướp bằng các gia vị như muối, nước gừng, rượu trắng. Trước khi ướp, thịt được khía vài đường trên miếng thịt cho gia vị ngấm đều. Sau khi ướp xong dùng lạt tre tươi xâu thịt thành từng xâu rồi treo trên gác bếp.

Bếp của người Tày, Nùng suốt ngày đêm lúc nào cũng có hơi lửa. Hơi lửa, hơi khói giúp cho thịt khô, săn cứng lại. Khoảng mười đến mười lăm ngày là đem xuống dùng được. Khi muốn mang xuống ăn phải ngâm trong nước nóng cho thịt nở ra, rửa sạch rồi thái ra thành từng lát mỏng. Chờ cho chảo nóng rồi đổ dầu vào, tiếp theo phi tỏi cho thơm rồi cho thịt vào đảo đều. Sau khi những lát thịt đã se se, đổ một ít nước vào om cho thịt mềm. Tỏi thì băm nhuyễn và gừng tươi thái chỉ đổ tất cả vào vào xào chung. Bây giờ thì hãy nêm gia vị cho vừa miệng và bây giờ chúng ta sẽ có đĩa bò gác bếp thơm lừng. Lát thịt bò có màu nâu đỏ, nhìn có vẻ khô nhưng lại rất mềm, hơi dai mà không bị xác, không bở, càng nhai càng thấy bùi.

Xôi trám



Mùa thu, khi bạn có dịp vào các bản làng của người Tày bạn sẽ có dịp được thưởng thức món xôi trám.

Có hai loại trám: trắng và đen. Trám trắng thường dùng làm những thứ kẹo, mứt, đậu sị, ô mai và còn dùng để chữa ho và còn có tác dụng giải rượu. Trám đen dùng làm món kho, sốt đậu phụ, cá, có vị đậm đà. Nhưng muốn làm xôi trám thì chỉ có trám đen. Xôi trám làm đơn giản nhưng ăn rất tốt cho sức khỏe, thơm, bùi và béo ngậy. Nếu chưa có điều kiện làm xôi, khi hái về ngâm nước ấm, bóc lấy phần thịt rồi sấy sau đó đựng vào lọ để bảo quản.

Hạt dẻ Trùng Khánh




Hạt dẻ Trùng Khánh chỉ có ở Cao Bằng. Khách du lịch khi đến đây thường nhớ đến hạt dẻ vì nó là một loại quả thơm ngon nhất mà họ từng được thưởng thức.

Hạt dẻ có vỏ cứng, dày và có nhiều lông tơ. Có thể đem luộc, hấp hoặc mang vào lò nướng chín, bạn sẽ thấy có hương thơm tự nhiên. Chỉ cần ngậm một lúc, tự nó mềm ra như bột bánh. Hạt dẻ xuất hiện vào cuối mùa thu. Khi ăn hạt dẻ thơm ngon trong tiết trời lạnh bạn sẽ có thể cảm nhận được hương vị của núi rừng và tấm lòng của người chăm sóc cây dẻ.